MỘT BỘ MÁY NHÀ NƯỚC ĐƯỢC THIẾT KẾ ĐỂ CHỐNG THAM NHŨNG .Đỗ Ngà

Bộ máy và nguyên lý hoạt động là 2 khái niệm khác nhau nhưng nó quan hệ khắn khít. Mỗi loại bộ máy thì chỉ dành riêng cho một nguyên lý hoạt động nào đó thôi. Chính vì thế nên nới có chuyện, máy dầu không thể đổ xăng và ngược lại. Đó là chân lý không phải bàn cãi.

Ảnh minh họa

Người CS “đỉnh cao trí tuệ” là ở chỗ, họ có thể dành cả cuộc đời ngồi bàn làm sao họ có thể đổ xăng vào máy dầu mà nó vẫn hoạt động tốt. Chính vì dựa trên sự thiếu hiểu biết, và sự cố chấp theo kiểu kiêu ngạo CS như vậy mà họ cứ bàn mãi. Và dù cho qua bao thế hệ bàn chống tham nhũng thì tham nhũng không thể giảm mà tăng mỗi ngày một mạnh hơn. Càng về sau, quy mô của những vụ án tham những càng lớn và số lượng vụ án tham những cũng càng nhiều.

Tham nhũng được sinh ra từ quyền lực tập trung không được kiểm soát, điều đó ai cũng biết. Tham nhũng phát triển mạnh tại những nơi thiếu minh bạch, điều đó ai cũng biết. Đó là 2 dấu hiệu đã được các khoa học chính trị phương Tây thế kỷ 17-18 đặt ra để thiết kế một thể chế chính trị nào đó mà có thể loại bỏ hoặc chí ít cũng hạn chế tham nhũng ở mức thấp nhất có thể. Và thế là tác phẩm Tinh Thần Pháp Luật được ra đời.

Tôi với anh đồng hạng cân và ngang tài ngang sức, thì tôi cũng hoàn toàn có thể knock out anh nếu anh rơi vào thế của tôi. Mà khi tôi knock out được anh thì tôi lấy hết mọi thứ còn anh không có gì cả. Đó là sự đối đầu giữa 2 đối thủ ngang tài ngang sức, sự đối đầu này sẽ sớm ngã ngũ về một đối tượng. Thế nhưng hãy tưởng tượng, trên võ đài có 3 người ngang tài ngang sức và nhiệm vụ của mỗi người là cùng một lúc hạ 2 người còn lại để lấy hết mọi thứ về mình thì điều đó có thể không? Không thể! Một người không bao giờ có thể thắng được 2 người ngang tài ngang sức với mình cùng một lúc. Đó là lý do tại sao quyền lực nhà nước được chia 3 (tức là tam quyền phân lập) chứ không chia 2 là vậy. Theo tôi, chia 3 là cách chia vô cùng khoa học trong ý đồ kiểm soát lẫn nhau.

Thực tế, phân quyền bộ máy nhà nước thì ắt có minh bạch, nhưng có minh bạch không có nghĩa là tham nhũng không thể ẩn mình. Tham nhũng bao giờ cũng đi đôi với những toan tính, và tất nhiên dù có minh bạch cỡ nào thì tham nhũng vẫn có thể tìm góc khuất để ẩn mình và phát triển. Đó là lý do tại sao tại những nước dù là tiến bộ bậc nhất, dù là nổi tiếng minh bạch, nổi tiếng trong sạch vẫn có tham nhũng, nhưng chú ý tham nhũng ở những nơi này nó nhỏ về mức độ và rất ít về số lượng. Ở những nơi này, những món quà chỉ vài ngàn đô cũng có thể bị buộc tội tham nhũng.

Ở phần trên chúng ta đã nói quyền lực chia 3 trong bộ máy nhà nước. Đó chưa phải là cái hay của của loại nhà nước này, mà theo tôi, nó còn có cái hay hơn nữa, họ đã chia 3 quyền lực trong toàn xã hội. Là sao? Nghĩa là trong xã hội gồm nhà nước và nhân dân, người ta cũng chia 3 thứ quyền lực rạch ròi và cân bằng, đó là những quyền lực nào? đó là quyền lực nhà nước, quyền lực công dân; và quyền lực báo chí. Báo chí sẽ soi mọi ngóc ngách xã hội, từ trong chính quyền cho đến đời sống dân sinh. Họ soi bằng nghiệp vụ báo chí nên những vụ tham nhũng dù cho khéo léo cỡ nào cũng khó mà che đậy được. Thực ra người dân nếu không nhờ báo chí tự do thì sự hiểu biết của họ cũng rất hạn chế, mà dân không biết thì tham nhũng phát triển dễ dàng. Cho nên có thể nói báo chí tự do, trao quyền cho nhân dân để cân bằng quyền lực nhà nước đó là phương pháp tuyệt vời triệt đường phát triển tham nhũng.

Nói cho đơn giản, phân quyền bộ máy nhà nước là triệt nguồn sinh tham nhũng, phân quyền cho toàn xã hội là để triệt đường phát triển tham nhũng. Một mầm sống nếu bị triệt cả nguồn sinh và nguồn sống thì nó mới không thể phát triển. Đấy là một đặc tính của tự nhiên mà con người đã đưa vào nguồn dữ liệu đầu vào để thiết kế một loại bộ máy nhà nước làm trong sạch chính quyền. Từ đó, xã hội loài người mới tiến tới văn minh tiến bộ một cách vững vàng.

Ngược lại nhà nước dân chủ là nhà nước CS, quyền lực được gom lại vào tay đảng. Trong cái nhà nước lạc hậu này, không những quyền lực được tập trung mà còn đi theo nó là vô số những cơ chế không minh bạch. Đây chính là mảnh đất màu mỡ để tham nhũng sinh sôi. Thêm vào đó là công dân bị tước hết mọi quyền, không có báo chí tự do nên đó là môi trường cực tốt cho tham nhũng phát triển. Nơi sinh lý tưởng, môi phát triển lý tưởng thì có thể nói, tham nhũng trong nhà nước CS là không thể chống. Nó sẽ phát triển năm sau cao hơn năm trước về cả quy mô của từng vụ án và phát triển nhiều về số lượng. Đó là vì sao chống tham nhũng trong chế độ này là bất khả thi.

Sáng ngày 21/10/2019 Quốc hội CS nhóm họp theo định kỳ. Và ngày đầu tiên người dân đã mất 1 tỷ đồng để cơ quan này bàn chuyện chống tham nhũng. Như đã phân tích, tham nhũng trong nhà nước CS là bất trị vì thể chế chính trị của nhà nước CHXHCNVN được thiết kế cho tham nhũng sinh sôi nhiều và phát triển mạnh mà? Chính tham nhũng là nguồn sống của quan chức, nó và là nguồn thu chính để quan chức tái đầu tư cho chiếc ghế cao hơn. Phải nói trong cái quốc hội này có 486 người thì hết 464 người (những người còn lại ngoài đảng) sống nhờ tham nhũng và dùng tiền tham nhũng đầu tư ghế quyền lực. Không ai thực lòng hay quyết tâm bàn kế sách để triệt nguồn sống mình và triệt nguồn thu dùng để tiến thân, không bao giờ. 1 tỷ ngày hôm nay là chi phí cho một cảnh quay trong vở kịch mị dân.

Chính thể độc tài CS, một loại bộ máy nhà nước được sinh ra để tham nhũng sinh sản và phát triển. Đó là bản chất. Để triệt tham nhũng thì không cách nào khác là phải thay đổi thể chế chính trị để dân chủ phát triển, ngoài giải pháp đó ra không có giải pháp nào khác. Tam quyền phân lập được xây dựng trên nguyên lý cực kỳ khoa học và đã được chứng minh bằng những nhà nước dân chủ trong sạch hàng đầu thế giới hiện nay. Không thể xây dựng một quốc gia cường thịnh bằng một nhà nước độc tài toàn trị được. Không thể! Bàn chống tham nhũng tốn tiền dân vô ích.

-Đỗ Ngà-

Một phản hồi to “MỘT BỘ MÁY NHÀ NƯỚC ĐƯỢC THIẾT KẾ ĐỂ CHỐNG THAM NHŨNG .Đỗ Ngà”

  1. Phạm Chí Dũng Says:

    Việt Nam bắt đầu thời kỳ vỡ nợ quốc gia?
    21/10/2019
    Phạm Chí Dũng

    Chia sẻ
    903
    Xem bình luận

    Print

    Trong bối cảnh chính phủ của thủ tướng ‘Cờ Lờ Mờ Vờ’ Nguyễn Xuân Phúc vẫn tiếp nối đà say men thắng lợi với những con số tăng trưởng GDP lên đến 7% nhưng lại bị nghi ngờ lớn về ‘ma số liệu’, còn ‘Tổng tịch’ Nguyễn Phú Trọng vẫn mê man về ‘đất nước ta chưa bao giờ ổn định như thế này!’ và ‘triển vọng phát triển còn tốt lắm’, vào ngày 10/10/2019 hãng đánh giá tín nhiệm có uy tín của quốc tế là Moody’s đã bất ngờ thông báo đang xem xét hạ mức tín nhiệm quốc gia Việt Nam xuống từ mức Ba3 hiện tại, đồng thời xem xét hạ mức đánh giá 17 ngân hàng Việt Nam, vì một lý do hiếm khi được công bố: Chính phủ Việt Nam chậm thanh toán một số khoản nợ tới hạn.

    ‘Rủi ro tín dụng đáng kể’ và núi nợ xấu ngân hàng

    Thang xếp hạng của Moody’s được cấu tạo từ Aa đến Caa với ký hiệu các con số 1, 2 và 3; con số càng thấp thì xếp hạng càng cao. Mức từ Aa đến Aa3 có chất lượng cao nhất và rủi ro tín dụng thấp nhất; từ A1 đến A3 có chất lượng trên trung bình và mức rủi ro thấp; từ Ba1 đến Ba3 có yếu tố đầu tư, nhưng rủi ro tín dụng đáng kể; còn các mức xếp dưới nữa lần lượt có yếu tố đầu tư, nhưng rủi ro tín dụng cao; và chất lượng thấp và rủi ro tín dụng rất cao.

    Hiện thời, mức Ba3 mà Moody’s xếp hạng tín nhiệm quốc gia Việt Nam là có yếu tố đầu tư, nhưng rủi ro tín dụng đáng kể.

    Mức xếp hạng trên là phù hợp với thực tế về tình trạng tăng trưởng nóng về tín dụng (đẩy vốn ra thị trường) của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong nhiều năm qua, đặc biệt vốn tín dụng được bơm vào hai kênh đầu cơ chủ yếu là thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản.

    Hậu quả của chính sách tăng trưởng tín dụng nóng và sử dụng đòn bẩy cao (margin) từ những năm 2006, 2007 đến nay là một núi nợ xấu ngân hàng, trong đó nợ không thể đòi (những khoản vay mất khả năng thanh toán) có thể chiếm đến 50% tổng nợ xấu.

    Tổng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay vẫn cao ngất, có thể lên đến 900.000 – 1 triệu tỷ đồng hoặc hơn, bất chấp việc Ngân hàng Nhà nước và chính phủ vẫn luôn công bố là đã ‘khuôn’ nợ xấu dưới mức 3%. Cho tới nay và sau 5 năm Công ty quản lý tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC) ra đời, hoạt động ‘xử lý nợ xấu’ vẫn chỉ chủ yếu… trên giấy.

    Và núi nợ nước ngoài

    Từ trước tới nay chính phủ và Bộ Tài chính Việt Nam vẫn luôn công bố rằng họ luôn trả nợ nước ngoài đầy đủ và kịp thời. Tuy nhiên, họ lại chưa bao giờ công bố chi tiết về các khoản nợ nước ngoài, bao gồm nợ của chính phủ, nợ do chính phủ bảo lãnh, và nợ tự vay tự trả của các doanh nghiệp Việt Nam.

    Nhưng động thái xem xét hạ mức tín nhiệm Việt Nam của Moody’s đã cho thấy tình trạng chậm thanh toán nợ tới hạn đang ở mức báo động, điều mà có thể dẫn tới tình trạng mất khả năng thanh toán và do đó dẫn tới hậu quả cuối cùng là vỡ nợ quốc gia. Khi đưa ra những đánh giá về mức xếp hạng như thế, điều hiển nhiên là Moody’s đã phải có trong tay những cơ sở thông tin tài chính và kinh tế chắc chắn, thu thập từ chính các chủ nợ của lớn nhất chính phủ Việt Nam như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB), Nhật Bản…

    Cho tới nay, con số chung nhất được chính phủ Việt Nam công bố là chính phủ này nợ nước ngoài hơn 100 tỷ USD.

    Nhưng ngoài con số trên, còn có hơn 100 tỷ USD khác là nợ nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam, để cộng chung lại số nợ nước ngoài của Việt Nam hiện thời là hơn 200 tỷ USD, gần bằng toàn bộ GDP một năm của đất nước này.

    Nhưng đó mới chỉ là nợ nước ngoài, chưa kể một núi nợ khác – nợ trong nước bằng tiền đồng Việt Nam, tương đương hơn 200 tỷ USD nợ của chính phủ và của các doanh nghiệp.

    Đáng chú ý, số nợ nước ngoài hơn 200 tỷ USD chỉ là nợ được thống kê chính thức, trong khi vẫn có thể phát sinh những khoản nợ nước ngoài lớn từ các doanh nghiệp. Vào tháng 9 năm 2019, Tổng cục Thống kê Việt Nam thình lình công bố phát hiện thêm 76.000 doanh nghiệp mà trước đó không nằm trong sổ sách của cơ quan này – mà động cơ phía sau công bố này là nhằm ‘hô biến’ GDP tăng thêm để lấy ‘thành tích đại hội 13’ cho Thủ tướng Phúc. Nhưng cũng chính công bố phát sinh này – chiếm đến hơn 10% tổng số doanh nghiệp hoạt động ở Việt Nam – chắc chắn sẽ kéo theo nhiều khoản vay nước ngoài mà trước đây không được thống kê bởi Bộ Tài chính.

    “Doanh nghiệp nhà nước vay nước ngoài tăng vọt, ai sẽ trả nợ?”- giới chuyên gia, báo chí và cả quan chức cùng hốt hoảng kêu lên. “Nếu các doanh nghiệp này là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước chiếm cổ phần chi phối không có khả năng trả nợ thì nợ này ai trả, bởi đây đều là các doanh nghiệp nhà nước?”.

    Thực tế trong nhiều năm qua cho thấy nhiều tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vay nợ tràn lan, với tâm lý vay là cực kỳ vô trách nhiệm. Thậm chí một số doanh nghiệp còn có sẵn sàng “xù nợ” khi làm ăn lỗ lã.

    Có đến ít nhất 30% số tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước đã rơi vào vòng lỗ lã, và đối mặt với nguy cơ phá sản kể từ năm 2008, khi kinh tế Việt Nam bắt đầu rơi vào giai đoạn suy thoái.

    Vào năm 2015, thủ tướng lúc đó là Nguyễn Tấn Dũng cho biết Việt Nam phải trả nợ đến 20 tỷ USD. Đến năm 2016, người “may mắn” thế chỗ cho ông Dũng là Nguyễn Xuân Phúc cho biết Việt Nam phải trả 12 tỷ USD. Những năm gần đây, nợ nước ngoài phải trả cũng có thể lên đến hàng chục tỷ USD mỗi năm.

    Bắt đầu thời kỳ vỡ nợ quốc gia?

    Công bằng mà xét, Nguyễn Xuân Phúc là đời thủ tướng “cực hình” nhất trong lịch sử tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam. Trả nợ nhiều nhất, kinh tế be bét nhất, xã hội hỗn tạp nhất, chính trị “tan nát” nhất…

    Vào năm 2017, chính phủ của thủ tướng ‘đổ vỏ’ Nguyễn Xuân Phúc đã phải đề ra hạn ngạch bảo lãnh cho vay chỉ 1 tỷ USD – con số thấp nhất trong nhiều năm gần đây. Mức bảo lãnh chỉ có 1 tỷ USD như thế đã phải giảm mạnh so với những năm trước đó (năm 2015 là 2,5 tỉ USD và 2016 là 1,5 tỉ USD), và giảm rất mạnh so với mức 6,6 tỷ USD của năm 2014.

    Sang năm 2018 và 2019, hạn ngạch bảo lãnh này thậm chí còn ít ỏi hơn nữa, hoặc gần như không còn tồn tại.

    Nợ nhiều đến mức vào năm 2017, chính phủ phải tuyên bố thẳng thừng sẽ không đưa nợ vay nước ngoài của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vào khái niệm nợ công, nằm trong Luật về Nợ công (sửa đổi). Điều này đồng nghĩa với việc chính phủ từ chối trả thay nợ vay nước ngoài cho doanh nghiệp, và hẳn sẽ có nhiều doanh nghiệp nhà nước phải phá sản.

    Trong bối cảnh giật gấu vá vai như thế, vào năm 2018 Ngân hàng thế giới đã đưa ra một cảnh báo giật mình: trong 3 năm tới, có đến 50% nợ trong nước của Chính phủ sẽ đáo hạn, tức chính phủ này phải đối mặt với nguy cơ rất lớn là không biết lấy đâu ra tiền để trả nợ, trừ việc… in tiền ồ ạt.

    Còn đến giờ đã gần hết năm 2019, lọt thỏm vào giai đoạn ‘50% nợ trong nước của Chính phủ sẽ đáo hạn’, tương ứng với đánh giá của Moody’s về việc Chính phủ Việt Nam chậm thanh toán một số khoản nợ tới hạn và đồng thời xem xét hạ mức đánh giá 17 ngân hàng Việt Nam. Nếu động thái này được Moody’s hoàn tất, sẽ có đến 50% trong số các ngân hàng Việt Nam rơi vào tình trạng bị hạ bậc tín nhiệm – nhiều nhất từ trước tới nay.

    50% lại là ước tính của giới chuyên gia tài chính về khả năng có đến phân nửa số ngân hàng đang tồn tại phải bị sáp nhập, hoặc cho phá sản do tỷ lệ nợ xấu quá cao và không bảo đảm khả năng thanh toán cho khách hàng. Tuy nhiên mối nguy hiểm thường trực này vẫn bị bưng bít bởi Ngân hàng Nhà nước trong những năm gần đây. Chỉ là con đê bị trám bít loang lổ ấy sẽ bục vỡ vào một thời điểm nào đó mà thôi – có thể gọi là thời điểm ‘Minsky’, tức hoàn toàn mất khả năng thanh toán các khoản vay nợ.

    Phá sản ngân hàng đang trở thành tương lai hầu như chắc chắn, để cộng hưởng với tình trạng mất khả năng trả nợ nước ngoài của chính phủ và doanh nghiệp, nền tài chính Việt Nam sẽ rơi gọn cả hai chân vào hố sâu khủng hoảng.

    Còn ngay vào lúc này khi hiện ra công bố hạ tín nhiệm của Moody’s, phải chăng Việt Nam đã bắt đầu thời kỳ vỡ nợ quốc gia?

    16×9 Image
    Phạm Chí Dũng
    Phạm Chí Dũng là nhà báo độc lập, tiến sĩ kinh tế sống và làm việc tại Sài Gòn, Việt Nam. Trước năm 2013, đã có thời gian 30 năm làm việc trong quân đội, chính quyền và khối đảng. Do viết bài chống tham nhũng, từng bị công an bắt vào năm 2012. Năm 2013, tuyên bố từ bỏ đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 2014, cùng các cộng sự thành lập Hội nhà báo độc lập Việt Nam và giữ cương vị chủ tịch của tổ chức này. Cũng trong năm 2014, được Tổ chức phóng viên không biên giới vinh danh ‘Anh hùng thông tin’. Các bài viết của Phạm Chí Dũng là blog cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.

    ĐĂNG KÝ

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: