Archive for Tháng Sáu 8th, 2019

BÀN VỀ CẢI CÁCH XÃ HỘI. Nguyễn Đình Cống

Tháng Sáu 8, 2019

7-6-2019

1- Đặt vấn đề

Người trong xã hội có thể chia thành 2 cấp: Trên và Dưới. Cấp trên gồm những người cầm quyền, thống trị, quản lý, lãnh đạo, làm ra luật pháp v.v… Cấp dười là dân thường, bị trị, sống và làm việc theo luật pháp v.v… Quá trình của xã hội có thể làm phát sinh nhiều loại mâu thuẫn, quan trọng nhất là giữa dưới và trên.

Ảnh minh họa

Mâu thuẫn dưới – trên làm mất ổn định xã hội. Thông thường nó được phát hiện từ cấp dưới, phản ảnh trực tiếp lên trên hoặc qua truyền thông đại chúng. Lúc này, tùy vào trình độ, đạo đức và thiện chí của cấp trên mà có thể xảy ra các tình huống (TH) khác nhau.

TH 1- Cấp trên có trình độ, đạo đức, thiện chí, sẽ đề ra những biện pháp đổi mới hoặc cải cách cần thiết, giải quyết mâu thuẫn, đưa sự ổn định lên tầm cao hơn.

TH 2- Cấp trên kém đạo đức và thiện chí sẽ tìm cách đối phó bằng thủ đoạn gian dối, lừa bịp mà không thật lòng cải cách. Lúc này, với thể chế thực sự dân chủ thì cấp dưới chờ đến bầu cử, dùng lá phiếu để loại bỏ bọn đang cầm quyền.

TH 3- Cấp trên kém đạo đức và thiện chí, nhưng giữ được độc quyền thống trị nên ngoan cố. Lúc này nếu cấp dưới có đủ sức mạnh thì sẽ xảy ra cuộc đấu tranh quyết liệt. Cấp dưới dùng biện pháp hòa bình như đình công, biểu tình. Cấp trên, nếu khôn ra thì thương lượng, nhượng bộ, nếu đểu cáng sẽ dùng lực lượng vũ trang để đàn áp. Nhưng khi cấp dưới đã tập hợp được, nêu cao được chính nghĩa thì lực lượng vũ trang sẽ quay về với nhân dân. Sự đàn áp cuối cùng sẽ thất bại.

TH 4- Cấp trên vừa ngu, tham và độc tài mà cấp dưới chưa đủ lực lượng để đấu tranh thì sẽ phải chịu đựng áp bức trong một thời gian dài. Tình trạng này sẽ kết thúc bằng 1 trong 2 kịch bản sau.

+ TH 4A- Đến một lúc nào đó trong nhân dân sẽ xuất hiện các anh hùng hào kiệt, đủ sức tập hợp để làm cách mạng, dùng vũ trang lật đổ bọn thống trị. Lúc này khó tránh khỏi nội chiến.

+ TH 4B- Tình hình chia rẽ trầm trọng, bọn cấp trên càng giàu có thì nhân dân càng đói khổ, đất nước thối nát, chia rẽ, nước ngoài sẽ nhảy vào. Thế là tạm thời mất độc lập. Lúc này đất nước như thế nào sẽ phụ thuộc vào cấp trên mới lập.

2- Tình hình VIệt Nam

Sau khi kết thúc chiến tranh, thống nhất lãnh thổ (tháng 4/1975), VN bước vào thời kỳ suy sụp tạm thời. Mâu thuẫn trên – dưới trầm trọng. Để giải thích và tìm biện pháp tháo gỡ, đã hình thành 2 lề khác nhau, chủ yếu đối lập nhau. Đó là Lề Đảng và Lề Dân. Lề Đảng thuộc cấp trên, tương đối rõ, gọi là A. Lề Dân thuộc cấp dưới, đầu tiên chỉ mới là những cá nhân phản biện, rồi đến một vài tổ chức xã hội dân sự, gọi là B.

Về cuộc chiến 20 năm (1955-1975), A cho là chiến tranh giải phóng, chống đế quốc Mỹ xâm lươc, B cho rằng chủ yếu là nội chiến vì ý thức hệ, Mỹ không xâm lược mà chỉ là can thiệp để ngăn chặn CS. Ngày 30 tháng 4/1975, A cho là ngày giải phóng, B cho là ngày kết thúc chiến tranh.

Đối xử với bên bại trận, A cho rằng phải gọi chúng là “ngụy quân, ngụy quyền”, bắt đi cải tạo, nói rằng đi học tập vài chục ngày rồi giam cầm người ta nhiều năm. Việc đó B cho là lừa dối, vô nhân đạo.

Về hòa hợp, hòa giải dân tộc, A muốn rằng kẻ bại trận phải khuất phục và hòa giải với người chiến thắng, vẫn khăng khăng rằng “ngụy quân, ngụy quyền” là kẻ thù giai cấp và dân tộc. B lại muốn người chiến thắng nâng đỡ và hòa giải với người bại trận, họ là anh chị em cùng dòng máu.

Giải thích sự khó khăn, kiệt quệ về kinh tế từ sau 1975, A cho là do chiến tranh, bị cấm vận, bị bao vây, bị “thế lực thù địch” phá hoại. B cho là tại những sai lầm trong chủ trương và sự lãnh đạo của ĐCS, cụ thể là hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc, là cải tạo kinh tế tư nhân ở miền Nam, là cấm chợ ngăn đường trong toàn quốc, là đóng cửa với thế giới rộng lớn..

Về người di tản, thuyền nhân, bỏ nước ra đi, A cho rằng đó là bọn thù địch, phản quốc, B cho rằng họ là những nạn nhân của chế độ CS.

Vào thời gian 1986, mâu thuẫn lên đỉnh điểm. Lãnh đạo của Đảng không còn có thể bưng tai, bịt mắt để tiếp tục lừa dối nhân dân. Bên trên buộc phải đổi mới, phải mở cửa, phải bỏ cấm chợ ngăn đường v.v… Đó chỉ mới là thực hiện một phần nhỏ của TH 1. A cho rằng Đảng đã rất sáng suốt làm đổi mới, B nói rằng chẳng qua là sửa sai, là quay lại cái cũ.

Từ 1990 trở đi, kinh tế có phát triển, đời sống nhân dân có được cải thiện, nhưng đất nước lại lâm vào tai họa mới. Đó là nạn phá hoại tài nguyên và môi trường, là nạn tham nhũng, nạn mua quan bán chức tràn lan, nạn xuống cấp về văn hóa, đạo đức, giáo dục, nạn chảy máu chất xám, nạn làm ăn thua lỗ của kinh tế quốc doanh và nợ nần chồng chất.

Tình trạng thực tế đất nước là rõ ràng, không thể che giấu, nhưng A và B lại giải thích và tìm ra nguyên nhân trái ngược nhau.

A cho rằng đất nước vẫn phát triển, GDP tăng cao, uy tín trên trường ngoại giao là tốt, có nhiều đối tác chiến lược, Đảng vẫn kiên trì đường lối đúng đắn và sáng suốt là theo Mác Lê để xây dựng CNXH. Đảng vẫn ra nhiều nghị quyết để làm trong sạch vững mạnh, nhân dân vẫn tin vào Đảng, đất nước được như ngày nay là nhờ công ơn trời biển của Đảng.

Theo Đảng, nguyên nhân của mọi tai họa, là do: Bên trong thì một số đảng viên, cán bộ thoái hóa, biến chất, tự diễn biến, tự chuyển hóa, bên ngoài thì “thế lực thù địch” tìm cách phá hoại, lật đổ. A cho rằng Đảng vừa lãnh đạo, vừa cầm quyền, chỉ cần làm cho Đảng trong sạch là có thể giải quyết được mọi chuyện, A tuyên bố, Đảng xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân, Đảng chống lại Tam quyền phân lập.

B cho rằng, tuy kinh tế có phát triển, đời sống của dân có được nâng cao, nhưng đất nước vẫn mắc vào vòng lẩn quẩn. So với các nước cùng hoàn cảnh thì VN bị tụt hậu nhiều. GDP chỉ là tiếng hảo, nhờ vào các xí nghiệp 100% vốn nước ngoài (FDI), Chủ nghĩa Mác Lê có nhiều độc hại, con đường XHCN là vô vọng, bế tắc. Nguyên nhân của mọi tai họa mà nhân dân phải gánh chịu là do sự độc tài toàn trị của Đảng, do những sai lầm của lãnh đạo Đảng. B qui kết, Đảng đang thống trị và đã cướp quyền của dân. Vấn đề cần và quan trọng là cải cách thể chế, là phải thay đổi từ đảng thống trị thành đảng cầm quyền, phải xây dựng chế độ Tam quyền phân lập.

Về quan hệ với Trung cộng, A cho rằng đó là chỗ dựa, là tấm gương, là không thể xa rời. B đánh giá Tàu chệt là kẻ thù truyền kiếp, là bọn bành trướng, đểu cáng..

Kể ra còn nhiều những nhận định và đánh giá khác nhau. Hình như giữa A và B cũng có vài điểm chung. Bên nào cũng tự nhận là yêu nước, là vì quyền lợi của dân tộc, vì một đất nước VN phát triển thịnh vương. Bên nào cũng tự cho mình mới thực sự đại diện cho nhân dân. Nhưng rồi 2 bên lên án nhau, cho rằng mình mới thật lòng, còn bên kia là xạo, là giả dối.

Cả hai lề đều tự cho rằng mình nói đúng sự thật, nhưng phải chăng mỗi bên đều chỉ mới đưa ra một phần của nó. Hình như A chủ yếu đưa ra phần bên ngoài của sự việc với mục đích tuyên truyền, còn B đưa ra phần bên trong, phần bản chất để phản biện.

A và B, bên nào nói bên ấy nghe, chưa có cách gì tìm ra tiếng nói chung. Đúng ra nhân dân phải có tiếng nói phân xử, nhưng nhân dân đang bị khống chế, Quốc hội chủ yếu thuộc lề A nên khó có công tâm. Xét về tương quan lực lượng vật chất thì A mạnh hơn B hàng ngàn, hàng vạn lần, nhưng về tinh thần thì B ở thế tiến công, không sợ gì A mặc dầu nhiều lúc bị chính quyền đàn áp khốc liệt. Còn A tuy một số hung hăng nhưng thiếu tự tin, chưa có ai dám nhận đối thoại với B để tìm chân lý. Thế là chia rẽ, mà chính A tạo ra sự chia rẽ đó.

Cứ mỗi lần đại hội Đảng có đánh giá tình hình và vạch phương hướng. Phần lớn dựa theo A. Những đề xuất và góp ý của B chủ yếu bị vứt bỏ, bị quy kết là phá hoại, là thù địch. Trong khi đó, B lại quy kết lãnh đạo Đảng là ngoan cố, bảo thủ, chỉ vì lợi ích nhóm, dẫn dân tộc đi sai đường.

Như vậy xã hội VN đang ở vào giai đoạn đầu của TH 3 hoặc TH 4, nghĩa là cấp trên không có đủ trình độ, kém đạo đức, thiếu thiện chí, độc tài, tham lam, trong khi cấp dưới chỉ mới xuất hiện lực lượng đấu tranh lẻ tẻ, chưa có tổ chức, chưa có lực lượng tinh hoa lãnh đạo.

3- Mong ước của người dân

Dân Việt đã trải qua nhiều năm chiến tranh, đã tốn nhiều xương máu, nên đại đa số chỉ muốn yên ổn làm ăn, không muốn “đấu tranh”, không thích đụng đến chính trị. Điều này là chấp nhận được khi đất nước có cấp trên là tầng lớp tinh hoa với trình độ cao, đạo đức tốt, thiện chí lớn. Nhưng với một cấp trên kém năng lực, thiếu đạo đức, cố duy trì sự thống trị, chỉ muốn biến người dân thành công cụ, đẻ cho họ dễ bề sai khiến, được thoải mái làm giàu, mà dân vẫn cam chịu thì rồi sẽ dẫn đến tai họa lớn của TH 4.

Nhưng rồi dần dần dân Việt cũng hiểu ra được điều này và lại mong ước…

Phần đông mong được xảy tra TH 1, như đã xảy ra một phần nhỏ vào năm 1986. Những người Việt có hiểu biết ở trong và ngoài nước đều đồng ý với nhau rằng, phải cải cách thể chế chính trị đi cùng cải cách kinh tế. Lãnh đạo ĐCS cũng nói đến đổi mới chính trị, đặt câu hỏi đổi mới cái gì và như thế nào. Nhưng có lẽ lãnh đạo CS bị buộc phải nói tới đổi mới chính trị và chỉ muốn đổi mới vài thứ vụn vặt mà không đụng gì đến thể chế.

Một số người rất có tâm huyết trông chờ vào sự “Bỗng nhiên có một số lãnh đạo giác ngộ” Thế rồi những người đó, cá nhân hoặc tập thể, bằng nhiều con đường, họ viết thư, kiến nghị, góp ý, gửi cho cá nhân lãnh đạo và các tổ chức, gửi cho toàn thể đảng viên và toàn dân. Trong các văn bản đó, ngoài những phân tích sâu sắc, những góp ý chân thành, thì cũng thỉnh thoảng gặp những lời lên án đanh thép. Tất cả họ đều mong ước bên trên sẽ chọn lựa TH 1 để giải quyết mâu thuẫn. Thế nhưng toàn bộ các văn bản đó đều không được trả lời (không biết những ai đã được xem).

Một số người chống cộng tích cực cho rằng, “cộng sản chỉ có thể bị đánh đổ chứ không thể cải tạo”. Họ phê phán và cười nhạo cách làm “kêu gọi CS tự sửa mình”. Thực ra cần phân biệt chủ nghĩa CS với các đảng viên CS. Chủ nghĩa CS là thứ cần đánh đổ, nhưng đảng viên CS lại cần được tranh thủ. Trong số họ vẫn còn nhiều người có lương tâm, có trí tuệ, có dũng khí. Đánh đổ CS tốt nhất là từ bên trong. Lãnh đạo CSVN đang thấy rõ và rất lo việc này nên mới ra sức kêu gọi “chống tự diễn biến, chống tự chuyển hóa”.

Mong ước của người dân là cấp trên có đủ trí tuệ và đạo đức để theo TH 1. Nhưng xác suất để xảy ra quá thấp. Cũng rất khó xảy ra TH 2 vì VN chưa có nền dân chủ thật sự. Mong rằng sẽ xảy ra vào khoảng giữa của TH 2 và TH 3.

4- Các con đường của ĐCSVN

Tôi đã đọc khá nhiều sách liên quan đến thể chế chính trị cộng sản từ nhiều nguồn, trong đó chọn ra 4 tác phẩm đáng quan tâm:

+ Thất bại lớn (sự sụp đổ của CS), sách của Brzezinski, xuất bản năm 1988, nhóm Phan Ngọc, Phạm Khiêm Ích dịch ra tiếng Việt.

+ Cách mạng 1989- sách của Sebestyen (sự sụp đổ của chế độ xô viết)- Trần Quang Nghĩa dich ra tiếng Viêt

+ Tại sao các quốc gia thất bại, công trình nghiên ứu của Acemoglu và Robinson – XB ở Mỹ 2012, Nguyễn Quang A và Nguyễn Thị Kim Chi dịch ra tiếng Việt 2016.

+ Giai cấp mới, sách của Milovan Djilas – Phạm Nguyên Trường dịch ra tiếng Việt

Theo Brzezinski thì chế độ cộng sản tất yếu sẽ sụp đổ. Nguyên nhân chủ yếu là kém trí tuệ nên vận dụng sai các quy luật khách quan, bịa đặt ra những điều giả dối rồi cho rằng đó là chân lý và đem lừa người khác. Với ĐCSVN, ngoài bản chất kém trí tuệ còn mắc phải bệnh kiêu ngạo CS sau khi đã thắng trong 4 cuộc chiến tranh.

Lãnh đạo và đa số đảng viên CS cho rằng bằng đường lối và quy hoạch cán bộ, bằng các nghị quyết về nêu gương, về tăng cường kỷ luật, về học tập và làm theo Hồ Chí Minh v.v… họ có thể làm cho Đảng trong sạch và vững mạnh, từ đó củng cố sự lãnh đạo, nâng cao vị thế đảng cầm quyền, thực hiện được kế hoạch xây dựng CNXH vì hạnh phúc của toàn dân. Thật ra đó là một nhầm lẫn và lừa dối vô cùng lớn. Vì sao nhầm? Vì chỉ đụng đến vài hiện tượng bên ngoài mà chưa đụng gì đến bản chất. Còn lừa dối ở đâu? Lừa rằng vì hạnh phúc toàn dân, thật ra chỉ vì quyền lợi của các nhóm lợi ích và ý thức hệ CS.

Trước mắt ĐCSVN có 2 con đường để lựa chọn: bảo thủ và cải cách.

Con đường bảo thủ là cứ giữ tình trạng hiện tại, kiên trì Mác Lê, phụ thuộc vào Trung cộng, vẫn bưng tai, bịt mắt để không nghe những lời phản biện và tiếng rên xiết của dân oan, không thấy hết những mặt bi đát của thực tế xã hội, không muốn biết nguyên nhân sâu xa của các tai họa. Chỉ thích nghe lời tụng ca, chỉ thích nhìn cờ hoa chào đón. Như thế thì khả năng xảy ra TH 4 là rất lớn. CSVN, bên cạnh một số công lao nào đó (sẽ được lịch sử đánh giá), đã phạm nhiều sai lầm, nhiều tội đối với dân tộc. Nếu để xảy ra TH 4 thì ĐCS còn mắc thêm tội rất nặng và sẽ bị loại bỏ trong ô nhục.

Con đường cải cách, trước hết phải có thiện chí, phải biết lắng nghe và nhìn sâu vào bên trong sự thật. (Ngoài mồm Đảng cũng to tiếng kêu gọi nhìn vào sự thật, nhưng với con mắt ý thức hệ, giỏi lắm chỉ thấy được vài hiện tượng bên ngoài). Hãy mở ra các cuộc đối thoại để nghe cho tường tận những quan điểm và đề xuất của B, thấy rõ được những nhầm lẫn của A (trong đó có đường lối cán bộ phản dân chủ, phản tiến bộ), hãy thực tâm mở rộng dân chủ thì mới mong có được người tài giỏi làm việc nước. Phải thực hành cải cách đường lối và tổ chức để trở thành một đảng chính trị cầm quyền (nên tham khảo Đảng Hành động nhân dân của Singapore và trường hợp nước Mông Cổ).

Con đường cải cách là đáng mong đợi, nhưng khả năng thực hiện được rất thấp vì để làm được thì trong Đảng (đặc biệt là trong lãnh đạo cấp cao) phải xuất hiện những đảng viên có trình độ, có dũng khí. Mà trong hơn 80 năm tồn tại Đảng đã kịp thời làm thui chột các phẩm chất ấy. Con đường bảo thủ được Đảng thích hơn, phù hợp với các nhóm lợi ích, nhưng sẽ mang lại tai họa lớn cho đất nước, nhân dân không mong đợi và phản đối.

Khả năng xảy ra nhiều hơn trong thực tế, không phải do lựa chọn mà là do tình thế tạo ra. Đó là con đường của TH 3 khi Đảng ngoan cố, bảo thủ, dân tích cực đấu tranh. Đảng khôn ra thì thương lượng, đối thoại, chon cách thỏa hiệp. Ở Ba Lan, Đông Đức, Tiệp Khắc, Đảng buộc phải thỏa hiệp ở bước cuối cùng, như thế là bị mất gần hết oai tín. ĐCSVN nên khôn ngoan hơn, chọn cách thỏa hiệp dần dần từng phần, nên “rút lui từng bước, nhường lại từng bộ phận” trước cuộc đấu tranh cho một nền dân chủ chân chính của nhân dân. Như vậy nếu có lui cũng là trong danh dự. Hơn nữa, khi Đảng có những cải cách được nhân dân đánh giá tốt thì vẫn có thể được tín nhiệm để cầm quyền. Nếu mà ngoan cố, kiêu ngạo thì sẽ nhận kết quả thảm khốc như ở Rumani.năm 1989.

5- Sự hoạt động của cấp dưới

Xin tạm để riêng ra những người Việt, ngay từ đầu đã có nhận thức khác về chế độ cộng sản và chống lại. Chỉ xin bàn đến những người đang chịu sự thống trị hoặc có liên quan đến chế độ hiện hành.

Trong nhiều năm trước đây người dân được giáo dục, được tuyên truyền để tuyệt đối tin tưởng và trung thành, để biết ơn sâu sắc Đảng CS lãnh đạo. Mặt khác Đảng cũng tạo ra sự trừng phạt, sự đàn áp để không những dân mà đảng viên cũng nơm nợp lo sơ bị quy kết, bị nghi ngờ. Tình trạng đó làm cho phần lớn người dân cúi đầu theo Đảng, đa số cam chịu an phận thủ thường. Một số ít còn cho là khôn ngoan khi bưng tai bịt mắt trước bất công xã hội, chỉ lo giữ được yên ổn cho mình và gia đình.

Thế rồi, do thực tế phủ phàng đập vào mắt, do ảnh hưởng của những phát hiện sai lầm và độc hại củai Mác Lê mà dần dần xuất hiện các phản biện, tạo nên lực lượng B. Ban đầu hễ chính quyền phát hiện được cá nhân B nào đều ra tay đàn áp, bỏ tù, trừ khử. Tưởng rằng như thế sẽ nhanh chóng dẹp yên. Nhưng cách làm đó đã không đàn áp được mà càng ngày B càng phát triển. Nhờ Internet sự lan tỏa của B càng nhanh và mạnh.

Đã xuất hiện các tổ chức xã hội dân sự, những người hoạt động dân chủ đã nối tiếp được các thế hệ từ già đến trẻ. Đã xuất hiện một số tấm gương rất đáng nẻ phục, đặc biệt là các bạn trẻ có trí thức, có dũng khí. Tuy vậy lực lượng chưa đủ mạnh, còn phân tán, chưa có ngọn cờ tập hợp.

Có nhận định rằng ở VN hiện nay, ngoài ĐCS ra chưa có một lực lượng chính trị nào có thế đứng ra cầm quyền. Chính vì những điều vừa nêu mà một số người, tuy thấy rõ độc hại của Mác Lê, thấy rõ sự bảo thủ, sự yếu kém của lãnh đạo CS, nhưng vẫn còn trông mong vào sự đổi mới của họ.

Những điều vừa nêu là có thực, nhưng chỉ là tạm thời. Tình hình sẽ biến chuyển để tạo ra thay đổi. Trong nhân dân và đặc biệt trong giới trẻ càng ngày càng tăng mấy điều sau: 1-Mất lòng tin vảo ĐCS, CNXH, Mác Lê. 2-Tin vào sự cần thiết của một thể chế dân chủ thực sự chứ không phải dân chủ giả hiệu. 3-Không cam chịu để bị biến thành nô lệ mà dám chấp nhận đấu tranh, dám chấp nhận hy sinh vì tương lai của dân tộc.

Hoạt động của cấp dưới có thể phân thành 2 mảng lớn: của trí thức và của quảng đại.

Hoạt động chính của trí thức nhằm vào việc thức tỉnh. Trước hết là thức tỉnh nhân dân theo hường nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, làm cho đại đa số người dân hiểu rõ nhân quyền và dân quyền. Đồng thời là thức tỉnh những kẻ lầm đường lạc lối ở phía A bằng những bài phản biện, những đối thoại. Thức tỉnh các lãnh đạo CS có khó hơn, đó là viết thư, kiến nghị, góp ý. Việc làm này chủ yếu là thể hiện tinh thần, hiệu quả đối với lãnh đạo tuy thấp, nhưng cũng gây ra vài tác dụng nào đó.

Hoạt động của quảng đại, đó là của các tổ chức xã hội dân sự, các nghiệp đoàn độc lập, các cá nhân đơn lẻ hoặc liên kết với nhau. Hoạt động chính là tổ chức đấu tranh hòa bình, là chính thức tỏ thái độ phản kháng những bất công, áp bức, chống lại những việc làm sai trái vi phạm nhân quyền, hủy hoại môi trường v.v… Hiện tại các lực lượng còn yếu, chưa thống nhất, nhưng mỗi tổ chức, mỗi lực lượng tăng cường hoạt động sẽ đến lúc thu được thắng lợi

6- Tiệm tiến và bước nhảy

Sự phát triển của mọi sự vật thường theo 2 cách: Tiệm tiến và bước nhảy. Tiệm tiến là dần dần, từng bước một từ ít đến nhiều, từ thâp lên cao. Bước nhảy là đột xuất, bước ngoặt, xảy ra tương đối nhanh. Để xảy ra bước nhảy cần có thời cơ và sự tịch lũy năng lượng tốt. Cách mạng tháng 8 là một bước nhảy. Nhưng rồi dân tộc Việt đã bỏ lỡ rất nhiều thời cơ thuận lợi để tạo bước nhảy, để phát triển chỉ vì ĐCSVN đã tích lũy quá nhiều năng lượng xấu, phần lớn năng lượng tốt của dân tộc đã bị thui chột, bị hạn chế.

Đấu tranh để cải cách xã hội của VN theo tiệm tiến là việc các lực lượng dân chủ, nhờ vào lực lượng của mình và sự hỗ trợ của các thế lức tiến bộ, dựa vào pháp lý và đạo lý để đấu tranh, buộc thế lực thống trị nhượng bộ từng bước, chuyển hóa dần dần cho đến khi đạt được thể chế dân chủ mong muốn. Con đường này khá dài và cũng đầy gian khó, nó phụ thuộc chủ yếu vào tương quan lực lượng hai bên.

Bước nhảy, khi xảy ra sẽ giúp rút ngắn quá trình, nhưng nó mang đặc tính ngẫu nhiên của thời cơ. Liệu dân Việt có thể trông chờ vào những thời cơ nào.

Thời cơ từ bên ngoài như sự sụp đổ hoặc rối loạn lớn của Trung cộng. Việc này có thể xảy ra với xác suất thấp.

Thời cơ bên trong, từ trên. Đó là sự xuất hiện một nhân vật trong lãnh đạo ĐCS như kiểu Gorbachev với chính sách Cải tổ và Minh bạch. Con người này cần có đủ tài năng, bản lĩnh chính trị để tập hợp lực lượng. (VN đã từng có Trần Xuân Bách dậy non, Trung Quốc từng có Triệu Tử Dương yểu mệnh).

Thời cơ từ dưới. Đó là sự xuất hiện người lãnh đạo có tài năng, từ quần chúng, như Walesa của Ba Lan hoặc Mandela của Nam Phi.

Thời cơ từ một sự cố lớn do con người hoặc thiên nhiên tạo ra.

Thời cơ là có thật. Những người bình thường trông chờ và cầu mong. Những người tài trí, bản lĩnh cao sẽ hoạt động để tạo ra nó. Đó là cái vòng “thời thế tạo anh hùng và anh hùng tạo thời thê”. Một câu hỏi lớn: Khi cho rằng thời thế tạo anh hùng thì từ đâu sinh ra thời thế, Khi nói anh hùng tạo thời thế thì từ đâu sinh ra anh hùng.

Một câu trả lời chung chung là: Khí thiêng sông núi hun đúc tạo ra tinh hoa và anh hùng. Đó là thuyết Địa linh nhân kiệt. Lại hỏi tiếp: Ở đâu sinh ra khí thiêng sông núi ấy, làm sao để biết nơi nào có nhiều, có ít, không có, hoặc đã bị cạn kiệt, hoạt động của con người tác động đến khí thiêng sông núi như thế nào.

7- Câu cuối

Cải cách xã hội quan trọng nhất là cải cách thể chế chính trị. Việc làm này là hoạt động của con người, nhưng phải chăng chịu một chi phối rất lớn của Khí thiêng sông núi, một lĩnh vực còn nhiều điều bí ẩn. Nhiều năm tìm tòi, suy nghĩ về vận mệnh của dân tộc, thấm thía với mấy câu của Nguyễn Du: “Lại mang lấy một chữ tình/ Khư khư mình buộc lấy mình vào trong/ Vậy nên những chốn thong dong/ Ngồi không yên ổn, đứng không vững vàng/ Ma đưa lối, quỷ dẫn đường/ Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi/ Hết nạn nọ đến nạn kia…

Phải chăng dân tộc Việt đang phải chấp nhận cuộc “trả nghiệp chướng”. Tin rằng không sớm thì muộn, dân tộc sẽ trả được, trả xong nghiệp chướng và tương lai tươi sáng đang chờ đón. Chắc chắn như vậy.

TẠI SAO. Ngo Du Trung

Tháng Sáu 8, 2019

Tôi biết nhiều bạn đọc trong nước “ngứa mắt” khi tôi cứ “lải nhải” chuyện người Việt “phải đứng lên” mỗi ngày trên FB của mình. Vì lâu lâu, có người bực quá chịu không được nên mắng “Giỏi thì về đây mà đứng lên; chứ đừng ngồi ở chỗ an toàn nói phét!”

He he… tôi không về trong nước để “đứng lên” thay cho các bạn đâu. Vì “đứng lên” là để giành lấy “tự do, dân chủ, nhân quyền”; mà những thứ ấy thì tôi đang có đầy đủ ở đây thì việc gì phải chạy về VN để “đứng lên”?

He he… Có thể là tôi “ngồi ở chỗ an toàn nói phét” thật. Nhưng xin bạn đừng bận tâm về chuyện “nói phét” của tôi. Tôi chỉ xin bạn bớt nóng và bình tâm suy nghĩ một chút xem những điều tôi nói có đúng hay không thôi. Chẳng hạn như chuyện Tàu sắp nuốt xong VN có đúng không? Chẳng hạn như chuyện Tàu đang đầu độc cả nước VN, huỷ diệt cả dân tộc VN có đúng không? Chẳng hạn như VC là bọn tay sai của Tàu, đang âm mưu bán nước VN cho Tàu rồi cuốn gói đem gia đình ra ngoại quốc có đúng không? Chẳng hạn như chuyện muốn có tự do, nhân quyền thì phải tranh đấu, chứ không ai cho không, và tranh đấu thì phải tổn thất, phải nguy hiểm, phải hy sinh có đúng không? Và nhiều chuyện khác nữa, có đúng không?…

Nếu đúng thì bạn hãy làm một cách gì đó, trong khả năng và hoàn cảnh của bạn để cứu chính bản thân bạn và gia đình bạn; chứ đừng nổi nóng chửi tôi rồi im lặng. Bạn chửi tôi thì bạn thoả được chút tự ái, mà tôi cũng chẳng sao. Nhưng nếu bạn không làm gì cả thì chính bạn, gia đình bạn, thân nhân bạn sẽ là tôi mọi cho Tàu, sẽ bị Tàu mổ bụng lấy nội tạng….

Tôi lải nhải mỗi ngày chỉ vì nghĩ đến chỗ ấy thôi! Và xin nói thêm, ngoài chuyện không về VN tranh đấu thay cho các bạn, thì nếu trong nước đứng lên, ngoài nước sẽ hỗ trợ hết lòng.

TỰ MẶC ĐỊNH MÌNH LÀ TỚ THÌ CÓ THỂ LÀM CHỦ MÃI ĐƯỢC .Đỗ Ngà

Tháng Sáu 8, 2019

“Nhập gia tùy tục” là câu thành ngữ mà quốc gia nào cũng có chứ không phải chỉ riêng Việt Nam. Tiếng Anh có câu tương đương là “When in Rome, do as the Romans do”. Ý nói là khách luôn phải là người theo luật chơi của chủ. Bằng ngược lại, khách đến mà thay vai trò chủ, không sớm thì muộn khách sẽ làm chủ.

Nhớ xem phim Tam Quốc, khi Tôn Quyền đến phủ Chu Du, thì lập tức Tôn Quyền ngồi vào ghế chủ còn Chu Du phải xuống ngồi ở vị trí khách. Đây là quân thần nói theo quan hệ giữa họ, còn nói cho mộc mạc thì đó là chủ tớ.

Người ta nói, không ai dốt bằng người không muốn học, không ai điếc bằng kẻ không muốn nghe, và không ai đuôi bằng kẻ không muốn thấy. Đó là sự mặc định một sự bất biến suy nghĩ, sự mặc định này rất nguy hiểm nó biến con người tự nhốt mình vào một giá trị cố định. Khi bạn luôn mặc định là mình nô lệ thì bạn mãi là nô lệ. Và tất nhiên khi dân tộc mặc định mình là dân tộc nhược tiểu thì muôn thuở dân tộc Việt sẽ là nhược tiểu. Khi chính quyền mà xem mình là một nước yếu phải nhịn, nhưng nhịn đến độ để ngoại bang tới thể hiện tư cách người chủ trên đất nước này thì không sớm thì muộn, nó cũng sẽ là chủ.

Dân Việt mặc áo No U bị bắt tống giam, dân Tàu sang việt Nam mặc áo hình lưỡi bò thì không dám động đến. Đến tên của kẻ giết ngư dân mình cũng không dám nêu thì đấy là không là một sự mặc định vị trí nô lệ của chính quyền Việt Nam trước ngoại bang thì đó là gì? Rồi dân Trung Quốc đến Việt Nam dựng lên một khu riêng cấm người Việt bén mảng mà vẫn không sao, thì đó không phải thái độ làm chủ của dân Trung Quốc là gì? Khi khách đến, họ thấy anh chấp nhận thái độ làm chủ của họ, thì thế nào họ cũng tìm mọi cách để làm chủ anh.

Điều đáng buồn là người Trung Quốc họ đến Việt Nam với tư thế ông chủ thấy rõ, còn thái độ của chính quyền Việt Nam luôn tỏ ra mềm yếu không những với Trung Cộng mà còn với cả dân Trung Cộng không, thì vậy, với sự cai trị của CS liệu VN có thoát khỏi kiếp nô lệ ngoại bang không? Khi anh là chủ nhà mà lại tự mặc định rằng anh là tớ của khách thì chắc chắn rằng, đến một lúc nào đó khách cũng sẽ làm chủ nhà anh thôi.

– Đỗ Ngà –

KHI NGƯỜI YÊU TÔI KHÓC .Loc Duong

Tháng Sáu 8, 2019

Hải giận rồi. Hải ít khi nào giận lắm. Bình thường Hải hung hăng như con bọ xít. Nhưng hôm nay Hải giận rồi. Mà lúc giận, mặt Hải coi kỳ lắm. Nửa giống như con búp bê tình dục của Nhựt Bổn, nữa giống như ông già Nô-en bị cạo mất bộ râu.


Cố ngăn những giòng nước mắt đang chực tuôn tràn suối lệ, Hải móc cái điện thoại Vertu, trị giá cả ngàn đô la, ra gọi cho sư phụ:
– Ông thầy coi đó, chúng nó chơi đểu em. Chúng nó xúi em ăn cứt gà. Em vừa ăn xong, chúng nó không cho em lên chức thì thôi, lại còn tống em qua bên xây dựng, để uống nước cống hay để làm gì đây? Ông thầy phải lên tiếng can thiệp cho em đi chứ.


– Thì trước anh đã nói với chú rồi. Làm cái gì thì cũng phơn phớt, hình thức thôi. Phục vụ dân chỉ là khẩu hiệu. Bảo vệ quyền lợi của các xếp lớn mới là phục vụ chân chính. Chú chẳng nghe anh.
– Ông thầy không hiểu. Chính các anh ở quận 1 và cả các xếp ở bên Thành Uỷ đều xúi em ra dọn dẹp lòng lề đường cho giống với Singapore. Các ông ấy đều hứa đứng sau lưng em, cho nên em đã làm hết sức mình, cả hơn nửa năm nay lăn lộn ngoài đường phố, dân chửi như tát nước, đói không dám ăn, khát không dám uống….
– Thôi đừng khóc. Khóc anh không nói chuyện được đâu. Anh nhạy cảm với nước mắt lắm. Vào karaoke em nào khóc là anh boa không còn đồng nào dính túi. Chú mày vào đảng năm nào?
– Dạ năm 2000.
– Vào đảng 19 năm rồi mà sao chú mày vẫn còn ngu lâu vậy? Dọn dẹp vỉa hè là chỉ áp dụng với dân buôn gánh bán bưng thôi. Chú mày có đập phá tan nát gánh hàng, hay tịch thu sản nghiệp của người ta thì cũng chẳng ai động đến chú mày đâu, thậm chí còn vỗ tay khen nữa. Còn đằng này chú mày hăng tiết vịt quá, dám đụng tới các bãi giữ xe khủng, các nhà hàng, khách sạn 3 sao, 5 sao, toàn sân sau của các xếp lớn, có xếp còn đang ngồi trên ghế ngất ngưởng ở mãi tận Hà Nội, mà chính anh đây còn phải gọi là sư phụ. Thế có chết không.
– Chuyện lỡ rồi, bây giờ em phải làm sao?


– Làm sao cái gì? Chú mày ngu tới hai lần cơ. Được đảng bố trí qua xây dựng thì nhận mẹ nó đi, rồi tính sau. Lại đi bô bô với báo chí là gửi đơn xin từ chức. Chú mày có biết như vậy là chú mày đang tát vào mặt đảng không ? Đảng ta rất kỵ với từ chức. Thiếu gì lãnh đạo cao cấp, suy nghĩ và phát biểu như người quên uống thuốc, mà có ai từ chức đâu? Anh nói thật, sự nghiệp của chú mày coi như xong rồi. Không phải khơi khơi mà con mụ Quyết Tâm ra mặt hài tội chú mày đâu. Có nhiều bàn tay cớm bự đẩy nó ra đấy. Anh biết nhưng cứ phải ngậm tăm.
– Vậy thì em chỉ còn mong nhân dân hiểu cho em…
– Nhân dân nào? Chú mày định đóng phim qua mặt anh nữa sao? Nói cho chú mày biết: Tụi đài truyền hình VN nó có trong tay một văn bản chú mày cho thuê vỉa hè để kinh doanh cà phê. Văn bản này anh thấy tận mắt có chữ ký và con dấu của Đoàn Ngọc Hải rõ ràng. Không trách được khi ấy đã có người nói với anh : Vở kịch đòi lại vỉa hè của ông Hải thật là kệch cỡm. Anh không bịa với chú mày đâu. Có trên Google cả đấy. Mở ra xem. Chỉ có nhân dân nào mù thông tin thì mới thần tượng chú mày thôi.
Nghe tới đây, Hải thấy mình thua nguội. Rồi không kìm được nước mắt, khuôn mặt búp bê tình dục lại ngữa lên trời, mặc cho hai hàng lệ tuôn rơi. Ở đầu giây bên kia, sư phụ của Hải, nghe tiếng khóc nức nở, bèn lập cập cúp máy. Cô gái trẻ đáng tuổi con ông, đang ngồi trên đùi ông phụng phịu: ” xong chưa. Nói chuyện gì lâu quá à, em giận đó nha”. ” Đừng giận, tụi anh đang bàn việc nước”. ” Ứ ừ, em không chịu đâu “. Nói rồi cô ấn đầu ông quan bự có tiếng “liêm khiết” của thành Hồ vào sát đôi gò bồng đảo đang giả tạo phập phồng của cô…../.
Nguồn.Fb Loc Duong.

MAFIA ĐỎ .Nhà báo Hữu Danh.

Tháng Sáu 8, 2019

Toà tuyên anh Tuy 24 tháng tù giam. Anh Tuy và các luật sư quyết tâm kháng cáo. Lần này, phải yêu cầu Toà Phúc thẩm cho nhân chứng bên anh Tuy vào tham gia phiên toà. Kết luận điều tra của Hưng Nguyên không lấy lời khai nhân chứng trực tiếp, và Toà không đồng ý cho chúng tôi tham dự phiên toà với tư cách nhân chứng là đã vi phạm nghiêm trọng luật tố tụng.

Anh Tuy bị gài bẫy, bị đánh đập, bị ép vào tù tội bởi anh đã đụng chạm đến ông trùm của BOT bẩn bựa nhất nhì Việt Nam – Cienco 4!

Dư luận đặt dấu hỏi, ai đã đứng đằng sau cho phép doanh nghiệp này có vị trí đặt trạm thu phí trái quy định đem lại nguồn thu lớn. Điều tra cho thấy, giữa nhà đầu tư C4 với ông Lê Ngọc Hoa – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, nguyên Tổng Giám đốc C4 có mối quan hệ “đặc biệt”.


C4 là nhà đầu tư tuyến tránh Vinh dài 25,8km, tổng mức đầu tư 362 tỷ đồng. Công trình này được sử dụng trạm thu phí tại cầu Bến Thuỷ để hoàn vốn, dẫn tới việc nhiều phương tiện không đi qua tuyến tránh Vinh nhưng vẫn mất phí. Sau đó, trạm thu phí này còn “gánh” thêm nhiệm vụ hoàn vốn cho các dự án đường Nam Bến Thủy – tuyến tránh TP. Hà Tĩnh (tổng mức đầu tư 2.434 tỷ đồng), dự án nút giao quốc lộ 46 và dự án cầu Yên Xuân (730 tỷ đồng)… Cầu Bến Thuỷ nối hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh, nhưng vị trí đặt trạm thu phí thuộc địa bàn tỉnh Nghệ An, đồng nghĩa với tỉnh này được hưởng phần trăm điều tiết theo quy định.

Điều đáng nói, đương kim Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, ông Lê Ngọc Hoa nguyên là Tổng Giám đốc C4.
Ngày 14/11/2014, ông Lê Ngọc Hoa được HĐND tỉnh Nghệ An bầu giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An. Ông Hoa là Tổng Giám đốc C4 từ năm 2010. Theo báo cáo tài chính của C4 vào thời điểm 20.1.2017, ông Lê Ngọc Hoa đang nắm giữ 176.000 cổ phiếu (0,18%). Số cổ phiếu của bà Trương Thị Tâm (Phó Chủ tịch HĐQT, vợ ông Lê Ngọc Hoa) là 2.129.000 cổ phiếu, chiếm 2,13%).
Cái biệt phủ trong ảnh, là nhà anh Hoa. Cái biệt thự có anh Grap, là nhà ảnh ở thủ đô. Cái xe thì 4.5, Landcruise đời mới…

Tài sản này, có phần của BOT, có mồ hôi tài xế. Và họ, bọn BOT bẩn, sẽ phải chiến đấu đến cùng để bảo vệ BOT.
Và hôm nay, có cả máu và nước mắt nhân dân, có những ngày ngục tù của Hà Văn Nam, Nguyễn Quang Tuy…
Bản án oan khuất hôm nay, Lê Ngọc Hoa chắc là vui lắm! Chống BOT bẩn, chính là chống anh Hoa rồi.

Xin hãy chia sẻ và không cần bấm like!

NHÂN DÂN VN BÂY GIỜ MỚI BỪNG TỈNH VỚI CHIÊU TRÒ GIĂNG BẪY NỢ CỦA TRUNG QUỐC. Hoa Mai Nguyen.

Tháng Sáu 8, 2019

Không có gì là khó, chỉ sợ tiền không nhiều, nhà cầm quyền Trung Quốc đã nắm bắt được lòng tham vô đáy của những tên lãnh đạo ĐCSVN, vì vậy qua những dự án lớn mang tầm quốc gia đều vào tay các tập đoàn nhà thầu TQ, đơn giản là qua các dự án đó đám lãnh đạo VN được hưởng những khoản tiền BÔI TRƠN đến 30% cho đám quan tham, số tiền đó không hề nhỏ đã làm cho bọn chúng mờ mắt và đã dính vào cái bẫy nợ của TQ.

Khi đã mắc phải cái bẫy nợ, thông qua con đường phát triển kinh tế, thì chắc chắn rằng sẽ bị mất chủ quyền,cơ chế quyền hạn trên lãnh thổ quốc gia của đất nước mình cũng bị mất luôn, nhiều năm qua đã có rất nhiều các chuyên gia kinh tế và nhiều nhà báo đã cảnh báo mưu mô xảo quyệt của chính sách TQ đang thực hiện. với 16 nước bị Trung Quốc xem là đối tượng của chiến lược « bí kíp ngoại giao nợ » và khống chế. Trong số các nước rơi vào kế hoạch « một vành đai… » có Vanuatu, Philippines, Cam Bốt, Lào, Thái Lan, Malaysia, Sri Lanka, Tonga và Micronesia.

Điều đáng nói ở đây là, một bộ máy CS độc tài thì chúng đều biết hết, nhưng lòng tham lam vô đáy vẫn cố tình nhắm mắt làm liều, trong quần chúng nhân dân còn nhiều người không quan tâm đến chính trị, phó thác cho ĐCSVN, hoặc là có đọc được những thông tin trên cũng chỉ biết chán ngán và thở dài, không dám bày tỏ quan điểm của mình trên các trang thông tin đại chúng.

Nhân dân VN đã bừng tỉnh sau phiên chất vấn Quốc hội, ngày 05.06.2019, lúc 10h 13 phút.Ông Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể đã tiết lộ thông tin rằng.

” Chúng ta đã ký hiệp định với trung Quốc, nên chúng ta không được chọn nhà thầu, là do phía Trung Quốc chỉ định”

Như thế là giờ đây toàn dân đã trở thành con nợ của Trung Quốc, kẻ được hưởng lợi là những tên tham quan, mặt người dạ thú, chúng đã bán nước qua mô hình phát triển kinh tế. Những số tiền mà được bôi trơn thì giờ đây đã mua biệt thự sang trọng tại VN cũng như ở nước ngoài. tiền của cũng tẩu tán gửi vào các ngân hàng trên thế giới.

Chúng ta đang sống trên mảnh đất của chính chúng ta, đã được ông cha ta đổ nhiều xương máu để gây dựng, thì giờ đây đã bị Trung Quốc quản lý, và hoàn toàn mất chủ quyền, 
nói một cách dễ hiểu là những kẻ lãnh đạo đảng CSVN chúng nó ăn ốc, còn người dân VN bị đổ vỏ, tất cả chúng ta đang là con nợ thay thế cho những tên tham nhũng, và suốt đời phải đi làm để trả nợ cho chúng.

Nhân dân ta đã quá chán ghét với chế độ CS độc tài và tham nhũng, hầu như ai cũng muốn chế độ CS mau chóng sụp đổ, nhưng còn rất nhiều người không muốn chung tay góp sức trong công cuộc tranh đấu giải thể chế độ CS, mỗi người đều có một lý do khác để biện luận chốn tránh trách nhiệm với quê hương và đất nước.

Nhiều người chán ghét chế độ CS độc tài, nhưng chỉ nuôi hy vọng và ngồi nhà chờ đợi chế độ tự sụp đổ, thì chẳng khác há miệng ngồi chờ sung rụng.

Bao nhiêu năm qua ĐCSVN vẫn hô hào rằng họ quyết đổi mới, nhưng không đổi màu, có nghĩa là luôn kiên định giữ vững thể chế độc tài, cho dù có mất nước, mất chủ quyền, nhưng họ sẽ quyến không để mất chế độ CS.

Sự thật đã được phơi bày trên các trang mạng truyền thông rõ như ban ngày. VN đã bị giăng bẫy nợ của Trung Quốc, và không còn cửa nào thoát được nữa, kẻ chủ mưu đang ngồi trên đầu nhân dân ta và ai cũng biết, chính họ cũng không còn cách nào dấu diếm được nữa, cho nên bắt buộc ông Bộ trưởng Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thể phải trả lời chất vấn vào ngày 05.06. 2019 vừa qua.

Hiệp định thành đô 1990- 2020 đã đến quá gần với quê hương VN, đất nước đã bị giăng bẫy mọi hướng như một thế gọng kìm, vì vậy chúng ta muốn thoải khỏi cảnh mất nước, rơi vào cảnh đô hộ của nhà cầm quyền CS Trung Quốc, như Tây Tạng hiện nay thì chỉ còn một cách duy nhất là cùng nhau đứng dậy để xóa bỏ chế độ CS độc tài, khi chúng ta thoát được chế độc CS thì có nghĩa là thoát được CS Trung Quốc, nhân dân VN sẽ chung tay góp sức xây dựng lại VN mới và con người mới qua một thể chế dân chủ đa nguyên.

08.06.2019

HMN