TỘI ÁC KHỦNG KHIẾP .Thanh Bình

TỘI ÁC KHỦNG KHIẾP

Thanh Bình

Chỉ vì khát vọng TỰ DO 
Mong muốn THAY ĐỔI ấm no, đủ đầy
Hy vọng DÂN CHỦ chung tay
Xây dựng đất nước mỗi ngày đẹp hơn….

Sinh viên tuyệt thực nhiều ngày tại quảng trường Thiên An Môn trước khi bị xích xe tăng nghiền nát.

Sinh viên Trung quốc xuống đường
Tuyệt thực, im lặng, chủ trương ôn hòa
Đặng Tiểu Bình dùng chiến xa
Nghiền cho nát bét tinh hoa dân mình

Thiên Anh Môn – đảng cạn tình
Nửa triệu phải chết, sinh linh oán hờn….
Căm thù chia rẽ giang sơn
Pháp Luân Công hận vẫn còn chất cao…

Vậy mà đảng Việt tự hào
“Anh em vàng tốt” coi Mao “ân tình”?
Tôn Giang – kẻ giết dân mình
Ca ngợi đồ tể Tiểu Bình “Việt siêu”?

Đã có ngay những “tuyệt chiêu”
Giết sinh viên được thật nhiều và nhanh
Trước thì khởi động chiến tranh
Tàn sát biên giới, xây thành máu xương…

“Hữu nghị” vì “cùng Luận cương”?
Giết người như ngoé – “chủ trương đảng rồi”??? 
Hèn chi chúng triệt dân tôi?
Hèn chi thuốc độc hại đời chúng sinh?

Hèn chi cấm dân biểu tình?
Đòi chống Trung Quốc hại mình bấy nay?
Hèn chi đảng quyết xuống tay
Bắt người yêu nước đọa đày tù giam???

Những chiếc xe đạp của sinh viên bị xe tăng cán phẳng lì trên quảng trường. (Ảnh: Peter Charlesworth / Getty Images)

Việc khốn nạn, chúng cũng làm
Tham, dâm vô độ lan tràn khắp nơi….

Tỉnh chưa dân của tôi ơi?…..

Thanh Bình 21.05.2019

*Các bạn đọc bà dưới sẽ thấy: Mao thì giết khoảng 64 triệu dân TQ qua CCRĐ và Cách mạng văn hóa; Giang trạch Dân thì giết khoảng 2 triệu người Hoa chỉ vì họ theo tập Pháp Luân Công cho khoẻ người, mà không quan tâm tới chính trị; còn Đặng Tiểu Bình thì sau khi xua quân sang xâm lược toàn tuyến Biên giới VN 1979 khiến cho hàng trăm ngàn người cả hai bên tử vong, đất chưa kịp phai hết mùi máu, nó lại cho xe tăng cán chết và tống giam khoảng nửa triệu thanh niên, sinh viên TQ tại Quảng trường Thiên An Môn 1988. Nay ho Tập giết người tinh vi hơn bằng thuốc độc tẩm trong thực phẩm, hàng hóa giá rẻ, thuốc chữa bệnh giả hay chất gây nghiện tổng hợp ra khắp thế giới. Chưa kể âm mưu hút cạn kiệt tài nguyên của các nước nghèo thông qua đám lãnh đạo độc quyền gian tham để giết dân bản sứ không cần tiếng súng….
Lãnh đạo TQ đã có TRUYỀN THỐNG GIẾT CHÍNH DÂN HỌ, sao lãnh đạo ĐCSVN lại kết làm “anh em 4 tốt, 16 chữ vàng”???

Thảm sát Thiên An Môn : 30 năm sau đêm đất trời đảo lộn
Thụy My – Phóng viên đài RFA

Trong khoảng thời gian từ 17/05/1989 đến 04/06/1989, nhiều sinh viên tuyệt thực đã ngã gục trên quảng trường Thiên An Môn. 64memo.com

Ngày 19 tháng Năm năm 1989, thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng quyết định huy động quân đội để đàn áp các sinh viên biểu tình. Đây là khởi đầu cho biển máu ngày 4 tháng Sáu. Tác giả Arnaud Vaulerin trên Libération hôm nay 20/05/2019 trong bài viết «Thiên An Môn: 30 năm sau đêm đất trời đảo lộn», thuật lại chi tiết theo lời kể của một giáo sư triết Trung Quốc đang tị nạn tại Pháp.

…Một tia sáng lóe lên trong ánh nhìn, như một thoáng cười từ thẳm sâu kỷ niệm, sau hai tiếng đồng hồ tâm sự trước ly cà phê đen và một chai Orangina, trong một quán cà phê ở quảng trường Denfert-Rochereau, Paris. Mùa xuân đã đến rồi. Nó gợi lại những hình ảnh luôn bền bỉ về một mùa xuân khác, vào năm 1989, tại Trung Quốc.

Thái Sùng Quốc (Cai Chongguo) nhớ lại: «Bạn không thể tưởng tượng được sự sôi nổi vào thời đó, với hàng triệu người tham gia vào thời điểm đặc biệt ấy. Trong suốt nhiều tuần lễ, chúng tôi đã sống qua thời khắc tự do duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, dưới cái nhìn của toàn thế giới. Lần đầu tiên phương Tây nhận ra rằng người Trung Quốc có thể biểu tình và chỉ trích các nhà lãnh đạo».

Đó là tia sáng đã làm rạng rỡ khuôn mặt người thầy giáo dạy môn triết, đã phải chạy trốn khỏi đất nước sau vụ đàn áp năm 1989, khi những chiếc xe tăng của quân đội đè bẹp phong trào Thiên An Môn đêm 3 rạng 4 tháng Sáu. Thời điểm này đã cắt làm đôi cuộc đời của Thái Sùng Quốc, cũng như đã để lại «một sự chia rẽ vô cùng sâu sắc nơi người dân Hoa lục».

Ba mươi năm sau, người cựu đảng viên gương mẫu của đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) tị nạn tại Pháp lấy làm tiếc với «sự cấm kỵ tuyệt đối về Thiên An Môn» tại Trung Quốc. Trong thời kỳ hậu đàn áp và chứng mất trí nhớ phổ quát này, nhà ly khai nhìn thấy sự xuất hiện của «một xã hội do đồng tiền và dùi cui điều khiển. Trung Quốc của Tập Cận Bình không chỉ là một chế độ độc tài, mà còn là chủ nghĩa tư bản hoang dã, một kiểu chế độ toàn trị mới – muốn kiểm soát tất cả, định vị và nhận diện mọi người».

Biến cố năm 1989 đã «tập trung nỗi sợ bị đàn áp và phá vỡ cấm kỵ». Thái Sùng Quốc nói: «Chúng tôi đã thấy quân đội không ngần ngại giết người. Trước năm 1989, chúng tôi tin rằng họ không bao giờ vượt qua lằn ranh đỏ này».

Sự thay đổi đã xảy ra cách đây vừa đúng 30 năm. Trong đêm 19 rạng 20 tháng Năm, chính quyền cứ khăng khăng, đối thoại bế tắc. Bắt đầu một bước ngoặt, và đây là điểm đã đảo ngược hẳn mùa xuân Bắc Kinh.

…Đã từ một tháng qua, cả nước luôn sôi sục. Hôm 15 tháng Tư, loan báo về cái chết bầt ngờ do lên cơn đau tim ngay trong cuộc họp Bộ Chính trị của ông Hồ Diệu Bang (Hu Yaobang), nhà cải cách bị cách chức tổng bí thư hai năm trước đó, đã khiến hàng triệu người dân xuống đường. Và dậy lên những yêu sách về dân chủ hóa, tự do ngôn luận, đấu tranh chống tham nhũng.

«Phương pháp Jaruzelski»

Trong nội bộ ĐCSTQ, căng thẳng ngày càng tăng lên. Trước cuộc tuyệt thực của sinh viên khởi đầu từ ngày 13 tháng Năm, tranh cãi lại thêm gay gắt. Thủ tướng bảo thủ Lý Bằng (Li Peng) và tổng bí thư cải cách Triệu Tử Dương (Zhao Ziyang) cố tỏ ra đoàn kết. Ngày 18, họ cùng đến bệnh viện thăm những sinh viên tuyệt thực. Hôm sau, quảng trường Thiên An Môn. Trên truyền hình, ông Triệu Tử Dương xuất hiện với một bài phát biểu dài, ông vừa khóc vừa khuyên những người trẻ nên ngưng biểu tình. Ông thổ lộ: «Chúng tôi đã đến quá trễ». ĐCSTQ rạn nứt.

Suốt cả ngày 19 tháng Năm, đài phát thanh truyền đi các cuộc tranh luận sôi nổi giữa ông Lý Bằng và các sinh viên tập họp tại Đại sảnh đường Nhân Dân ở Bắc Kinh. Thái Sùng Quốc hồi tưởng: «Thật khó thể tưởng tượng nổi, tất cả đều được phát trực tiếp! Các nhà lãnh đạo phải trả lời những câu chất vấn của sinh viên».

Ngày hôm đó, người thầy dạy triết đi xe lửa đến Bắc Kinh, tai dán chặt vào chiếc radio. Nguyên quán ở Vũ Hán, cách thủ đô 1.200 km về phía nam, ông đến nhà xuất bản để trao tập cuối của bản thảo cuốn sách nói về Mao Trạch Đông, Cách mạng văn hóa và lịch sử Trung Quốc.

Anh kể: «Khi đến Bắc Kinh, một điều làm tôi sững sờ: hàng mấy chục xe vận tải quân sự đậu dọc theo đường xe lửa. Rồi tôi quên đi, thẳng đường đến Thiên An Môn. Quảng trường đen đặc người. Người ta tranh luận, một số gào thét, số khác nhảy nhót. Một khu trại hình thành với những xe buýt và những chiếc lều, thật chưa từng thấy. Công an hầu như biến mất. Nhưng cũng có sự căng thẳng, lo ngại».

Đêm 19 tháng Năm, cuộc khủng hoảng càng sâu sắc, và Lý Bằng chuyển sang thế tấn công trong đêm. Thủ tướng bảo thủ đã «cầu viện đến phương pháp được gọi là Jaruelski, theo tên nhà lãnh đạo cộng sản cuối cùng của Ba Lan: biểu dương ồ ạt lực lượng quân đội kèm theo sắc lệnh thiết quân luật» – theo phân tích của nhà sử học Laurence Badel trong tạp chí Histoire.

Quân dân cá nước hay đối đầu?

Quân đội chuẩn bị hành động, tiến vào trung tâm Bắc Kinh. «Tôi nhớ có một cặp vợ chồng cao niên đã xuống đường, hô hào dân chúng biểu tình, bảo vệ những sinh viên trẻ tuổi vốn được người dân vị nể. Người ta mang đồ ăn thức uống đến cho sinh viên».

Điều không thể tưởng tượng nổi đã xảy ra vào sáng 20 tháng Năm, khiến Thái Sùng Quốc vẫn luôn kinh ngạc: «Ngày càng có nhiều người dân tràn ra đường phố. Quân đội đang trên đà tiến phải dừng lại. Người già, người trẻ nằm la liệt trước đầu xe tăng, bao vây các xe quân sự, nói chuyện với các binh lính».

Thái Sùng Quốc soạn nội dung cho các tờ rơi, phụ trách làn sóng đài phát thanh trường đại học Nhân Dân, thảo ra các câu khẩu hiệu và tăng cường cho ủy ban tổ chức biểu tình để tránh khả năng phong trào ngả sang bạo lực. Ông cũng cố gắng duy trì đối thoại giữa chính quyền và sinh viên.

Trong vòng bốn ngày, Trung Quốc sống trong một tình trạng kỳ lạ. Người biểu tình và binh lính cùng «sống chung hòa bình», trao đổi, thảo luận với nhau. Kể từ ngày 24 tháng Năm, quân đội rút lui. Nhưng mọi việc đã diễn biến rất nhanh. «Tất cả đã quá trễ», theo cách nói của ông Triệu Tử Dương.

Người thầy môn triết kể lại: «Chúng tôi nghĩ rằng đã giành được chiến thắng, và đã thành công trong việc chấm dứt tình trạng thiết quân luật. Rồi tôi bắt đầu lo ngại một cuộc thảm sát: không thể có việc Đặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo quyền lực của Trung Quốc, bị mất mặt trước sinh viên».

Thái Sùng Quốc có linh cảm chính xác, nhờ quá khứ từng đứng trong hàng ngũ ở trường đại học và ĐCSTQ, «một thế hệ hăng hái với chính trị, cải cách và hy vọng hiện đại hóa». Sinh năm 1955 tại Vũ Hán, anh bị cuốn vào cuộc Cách mạng văn hóa khởi đầu năm 1966 để thanh trừng trong đảng và giúp Mao thống trị. Trong thập niên 70, anh được đưa về nông thôn.

«Chúng tôi phát hiện ra sự nghèo khổ không thể tưởng, và nhất là người dân quê không hề quan tâm đến chính trị và những câu khẩu hiệu của Mao về kẻ thù, đấu tranh giai cấp. Có một sự khác biệt hẳn giữa tuyên truyền với thực tế, một sự cách biệt giữa tư tưởng Karl Marx và ý thức hệ của ĐCSTQ. Nhưng khổ thay, Mao không phải là Marx!»

Anh thanh niên Thái Sùng Quốc đọc sách, viết ra những bài thơ, tìm hiểu về cuộc Cách mạng Pháp trong một cuốn sách lấy trộm được. Cuối cùng, anh vào trường trung học. Là học sinh gương mẫu, anh được đảng chú ý kết nạp, được tuyển dụng vào một nhà máy về viễn thông của quân đội.

Sau khi Mao qua đời năm 1976, đất nước bước vào «kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa» của người cầm lái mới Đặng Tiểu Bình. Ông Đặng «cố gắng giữ quân bình giữa giữa hai phe bảo thủ và cải cách».

Người chiến binh của Cách mạng văn hóa đi thi và đậu vào khoa Triết trường đại học Vũ Hán. «Đó là một thời kỳ giải tỏa. Người ta phục hồi danh dự cho các trí thức, rút ra cáo bài học từ những năm tháng Mao Trạch Đông. Hết sức cụ thể: làm thế nào khởi động tiến trình dân chủ hóa, và xây dựng một Nhà nước pháp quyền thực sự. Vũ Hán là một trung tâm tự do hơn rất nhiều so với Bắc Kinh».

Giấc mơ đổi mới

Những người trẻ nuôi hy vọng hiện đại hóa. Phong trào sinh viên đầu tiên vào năm 1986 đã thất bại, nhưng tâm trạng phản kháng vẫn bao trùm, được nuôi dưỡng với cuộc khủng hoảng kinh tế và vật giá gia tăng năm 1988. Một nhân vật trở thành biểu tượng cho sự thay đổi trong tương lai, nếu không nói là mô hình để noi theo: ông Mikhail Gortbachev. Trong một Trung Quốc tham nhũng, được các nhà lãnh đạo già nua điều hành, cha đẻ của perestroika ở Liên Xô có ảnh hưởng rất lớn đối với Mùa Xuân 1989».

Anh sinh viên triết là một trong những người tham gia tích cực vào bầu không khí sôi động ở Vũ Hán. Tranh luận, thành lập một trung tâm nghiên cứu triết học, lăng-xê một tạp chí, tổ chức một hội nghị quy mô về cải cách chính trị… Sau khi ông Hồ Diệu Bang qua đời ngày 15 tháng Tư, các đại tự báo nở rộ trên những bức tường của trường đại học Vũ Hán: «Đặng (Tiểu Bình), ông đã giết chết ông Hồ Diệu Bang», «Chúng ta hãy đòi hỏi tự do ngôn luận», v.v.

Và khi Nhân dân Nhật báo, tờ báo chính thức của đảng đăng bài xã luận nổi tiếng ngày 26 tháng Tư, nhắc lại bài diễn văn mà ông Đặng đọc trước đó một hôm, Thái Sùng Quốc phẫn nộ trước sự mù quáng của Đặng: ông ta tố cáo «âm mưu có chuẩn bị kỹ càng để gây rối trật tự công cộng». Anh nhấn mạnh: «Sinh viên không có ý định lật đổ ĐCSTQ, chúng tôi không dại dột».

Mùa Xuân Bắc Kinh đã diễn ra, nhưng không giống như năm 1986, nó không dừng lại. Và bị đàn áp đẫm máu. Ngày 2 tháng Sáu, Thái Sùng Quốc vẫn còn ở Bắc Kinh khi phát hiện trước trụ sở của Ủy ban trung ương đảng «mười bao đầy súng ống và cả súng trường». Một chiếc xe tăng cán nát thây «một cô gái mặc áo đầm màu xanh da trời» ngay trước mắt anh. Ba tuần sau, anh đến Hồng Kông bằng cách bơi qua biển, rồi sau đó sang Pháp tị nạn.

Một phản hồi to “TỘI ÁC KHỦNG KHIẾP .Thanh Bình”

  1. Cả Ngố Says:

    Quan Tây & Quan Ta

    *** Tưởng Năng Tiến ***

    S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – Sự thật ngày nay đã chứng minh rõ ràng công cuộc giải phóng thuộc địa có mục đích rất cao cả nhưng kết cục của nó nói chung thường ngược lại. Phạm Hồng Sơn

    Đến khi tôi đủ tuổi để dự thí tú tài thì Bộ Giáo Dục đã quyết định bỏ thi vấn đáp. Thiệt khoẻ. Cứ theo như lời của qúi vị đàn anh lớp trước thì phải trải qua oral – kỳ hạch miệng – mới thiệt sự biết đá biết vàng, chớ “hai cái bằng tú tài của thời chú mày thì kể như là đồ bỏ.”

    Nghe cũng hơi tưng tức.

    Coi: năm tôi đậu tú tài I, tỉ lệ trúng tuyển toàn miền Nam (VN) cho ban C chỉ có 8 phần trăm. Một trăm đứa đi thi thì rớt hết 92, vậy mà cái bằng của tui bị “coi như đồ bỏ” là sao – hả Trời?

    Tôi chỉ bớt ấm ức, và bật cười ha hả (bên bàn nhậu) sau khi nghe chuyện vui về một cuộc thi vấn đáp:

    Giám khảo, người Tây, hỏi:

    – Vị quan toàn quyền nào ở Đông Dương đã trở thành vị tổng thống thứ mười bốn của nước Pháp?

    Thí sinh vừa gãi đầu, vừa lầu bầu bằng tiếng Việt:

    – Đ… mẹ, hỏi gì khó dữ vậy cà!

    Vậy mà đậu oral vì giám khảo nghe “Đ.M” ra “Doumer.” Tôi sinh sau đẻ muộn, đã dốt lại lười, không mấy khi đụng tới sách vở nên chẳng biết Doumer là cái thằng cha (hay con bà) nào cả. Bữa rồi, nhờ đọc Vương Hồng Sển mới học thêm được ba điều/bốn chuyện:

    “… Viết về ông Doumer, tôi đã sửa ngòi bút, suy nghĩ thật nhiều: viết sai thì hổ với lương tâm, bằng bốc thơm ông lại ngại tiếng gièm pha còn mến tiếc Tây đầm. Nhưng ở Hà Nội cầu Long Biên còn đó, ai giẫm chơn lên phải nhớ người xây dựng, mới không thẹn sao ‘uống nước nỡ quên nguồn’! Ở Huế, cầu Tràng Tiền đổi tên mấy lượt, nhưng vẫn còn sờ sờ, ở Sài Gòn này, cầu Bình Lợi cũng là kỳ công bất hủ của ông Doumer, chớ mấy ai khác. Vậy tôi biết gì, cứ nói.

    Doumer qua Việt Nam khi tuổi chưa đầy 40. Người khỏe mạnh, làm việc bằng mười, thêm tài ba xuất chúng.

    Những kỳ công của ông là:

    – Ông thấy xa, lập trường Viễn Đông Bác Cổ, để bảo vệ cổ tích, đền chùa khỏi bị phá phách cắp gỡ, tu bổ cổ tích còn lại…

    – Ông lập trường cao đẳng ở Hà Nội…

    – Chính ông năm 1901 đã đến tại chỗ, chọn Đà Lạt thay vì Dankia và đốc thúc, tài trợ cho bác sĩ Yersin thành lập nơi nghỉ mát Đà Lạt như ngày nay đã thấy.

    Ba cây cầu sắt ông để lại, thật là kỳ công bất hủ …”

    Riêng về cầu Long Biên, tác giả Nguyễn Thông còn cho biết thêm một chuyện nhỏ bên lề:

    “Thấy bảo rằng, cầu xây xong, có nhiều quan chức cả tây lẫn ta khuyên ông Paul Doumer lập 2 cái trạm ở đầu cầu để thu tiền qua lại, bù đắp số tiền đã bỏ ra, ông Paul liền bảo, các thầy chỉ nghĩ chuyện bóp nặn dân. Cầu xây bằng ngân sách thuộc địa, do chính dân xứ này đóng góp, giờ lại đòi người ta nộp nữa, sao các thầy bất nhân thế.”

    Trời, tưởng gì chớ “bóp nặn dân” là chuyện rất bình thường (hằng ngày vẫn xẩy ra ở huyện) ở Thời Cách Mạng nên đâu có gì để phải lăn tăn. Tôi chỉ hơi băn khoăn về sự khác biệt (quá lớn lao) giữa những ông quan Tây thời thuộc địa và những ông quan cách mạng sau này. Đám trước đều có khuynh hướng kiến tạo. Còn đám sau thì hoàn toàn ngược lại.

    Xem qua tiểu sử trích ngang của nhiều vị lãnh đạo của ĐCSVN mới thấy có điều trùng hợp lạ lùng là họ đều thích thú và hăng hái trong việc phá hoại, hơn là xây dựng, trong mọi lãnh vực.

    – Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đầu Tiên của nước VNDCCH (kiêm Chủ Tịch Đảng) tại chức 24 năm, cùng với Stalin, Mao Trạch Đông, Polpot, Lenin, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật, Saddam Hussein… ông có tên trong danh sách (History’s Great Monsters) tội phạm chống lại nhân loại. Ông cũng được biết đến như là người sẵn sàng đốt cháy rụi cả rặng Trường Sơn, nơi mà cho đến nay vẫn còn hằng trăm ngàn hài cốt (vô thừa nhận) vương vãi khắp nơi – dù đã có không ít “mẹ già lên núi tìm xương con mình.”

    – Lê Duẩn, vị Tổng Bí Thư kế nhiệm – tại vị tới 25 năm – cũng có tên trong danh sách tội phạm chống lại nhân loại ở mức đại trà (massive crimes against humanity) nổi tiếng là người chủ chiến: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…” Cùng với Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Lê Đức Thọ, Lê Duẩn còn đánh luôn đồng đảng. Dù cả hai ông đều đã chết, chiến tích của Cuộc Đấu Tranh Chống Bọn Xét Lại vẫn còn sống âm ỉ trong lòng nhiều người dân Việt.

    – Trường Chinh: T.B.T (lần thứ nhất: giai đoạn 1941-1956, lần thứ hai: 1986) được Tạp Chí Cộng Sản mô tả ông là “nhà thiết kế đường lối đổi mới của Đảng ta.” Thiệt ra, Trường Chinh không có “thiết kế” cái con bà gì ráo mà chỉ ở vào tình thế bắt buộc phải lựa chọn một thế cờ (“không đổi mới thì chết”) đã sắp sẵn rồi. Thành tích đích thực của đương sự là lãnh đạo cuộc Cải Cách Ruộng Đất khiến gần trăm ngàn nông dân bị hành hình.

    – Đỗ Mười, 6 năm TBT, 3 năm Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng. Thành tích nổi bật của ông cũng liên quan đến hai trận đánh đẹp, có thể ghi thành sách: đánh tư sản ở miền Bắc sau 1954, và ở miền nam sau 1975. “không đổi mới thì chết.”

    – Lê Khả Phiêu, TBT 3 năm, có lẽ là nhân vật lãnh đạo duy nhất có khuynh hướng xây dựng. Ông đã thuê người thiết kế một vườn rau sạch – với hệ thống tiêu tưới tự động – ngay trên sân thượng của tư thất, để khỏi phải dùng chung thực phẩm bẩn (vì nhiễm chất độc hoá học) với đám thường dân.

    – TBT Nông Đức Mạnh cũng thế, cũng thích gieo trồng. Trong suốt 9 năm tại vị, đi đến nơi đâu ông cũng đều nhắn nhủ người dân bằng một câu nói duy nhất: “Trồng cây gì, nuôi con gì để cải thiện đời sống…” Vì bị dư luận chê bai đây là tư duy tiểu nông nên sau khi nghỉ hưu thì ông – cùng bà vợ kế, Đại Biểu Quốc Hội Đỗ Thị Huyền Tâm – đã lao vào một lãnh vực làm ăn khác, rất tinh vi và tân kỳ: kinh doanh BOT.

    – Nguyễn Phú Trọng nhận chức TBT từ năm 2011, đến năm 2018 kiêm nhiệm luôn Chủ Tịch Nước. Khác với bác Hồ thời xa xưa trước, bác Trọng học theo gương của bác Tập Cận Bình nên không đốt rừng Trường Sơn mà xoay ra đốt lò… Ông tuyên bố: “Cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy.” Tuy thế, do bản tính cẩn thận, bác Trọng lựa củi rất kỹ nên cái lò của ông có lúc cháy lúc không!

    Trải qua cả chục ông TBT chả thấy ông nào xây được một cái trường học, một cái nhà thương, hay một cái cầu nào ráo trọi – cầu tiêu cũng không luôn. Theo Vietnam Heritage (December 2016 – January 2017) thì Thành Phố Hồ Chí Minh Quang Vinh chỉ có hai trăm cái nhà vệ sinh chung dùng cho 10 triệu cư dân và 5 triệu du khách nước ngoài: “Ho Chi Minh City faces the same problem with only 200 public toilets serving the needs of its 10 million residents and the 5 million foreign tourists that visit the city each year.”

    Sau 83 năm đô hộ Việt Nam – ngoài tội ác – người Pháp đã để lại cho xứ sở này một số những thành quả đáng kể, thuộc nền văn minh chung của toàn thể nhân loại: hệ thống cầu cống, giao thông, y tế, giáo dục, ngân hàng, bưu điện, bệnh viện, thư viện, bảo tàng, kiến trúc… Còn chủ nghĩa cộng sản thì không để lại nơi phần đất mà nó cai trị bất cứ một thứ thành quả nào – ngoài bạo lực, nghèo đói, dốt nát, dối trá, và rác rưởi.

    Nói theo bác Nguyễn Gia Kiểng thì “Pháp đã còng tay Việt Nam và dẫn vào thời đại mới.” Sau đó, dân Việt tiếp tục bị còng tay – chặt hơn – bởi chủ nghĩa cộng sản, rồi buộc phải… đi lùi. Chút hy vọng còn lại về vận mệnh của dân tộc này là mong mỏi mọi người ý thức được rằng cả nước đã lùi đến “chân tường” rồi.

    __._,_.___

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: