Archive for Tháng Năm, 2019

KHI ĐẤT NƯỚC LÂM NGUY, CHÚNG TA CẦN ĐOÀN KẾT HƠN NỮA .Hoa Mai Nguyen

Tháng Năm 31, 2019

Nhân dân VN vẫn hay nói một câu rằng “không có việc gì khó, chỉ sợ tiền không nhiều” Câu nói đó rất đúng với một số nước CS độc tài, cán bộ quan chức hay tham nhũng. Đặc biệt có hai nước CS độc tài như Trung Quốc và Việt Nam.

Nhà cầm quyền CS Trung Quốc biết được cái tham lam của đám lãnh đạo CS Việt Nam, chúng tham tiền mờ cả mắt, như thằng nghiện thèm thuốc.

Nhiều năm qua Trung Quốc đã dùng tiền mua chuộc đám quan chức VN và đã thành công một cách mỹ mãn,có thể nói rằng phía Trung Quốc đã cài cắm người của họ đang len nỏi trong hàng ngũ cán bộ cao cấp của ĐCSVN, Vì tham tiền đám chóp mu ĐCSVN đã tự dâng hiến đất đai và tài nguyên, biển đảo cho Trung Quốc, mà phía TQ không phải đổ máu cũng như mất một viện đạn nào, cũng không bị thế giới lên án là kẻ xâm lược, tất cả đều đứng sau bức màn hợp tác và phát triển kinh tế.

Thế là đôi bên đã gần như thỏa thuận mua bán qua những trò ảo thuật che mắt nhân dân ký kết cho thuê đất để phát triên kinh tế với ba vùng đặc khu trải dài 3 miền đất nước gồm Bắc – Trung – Nam .( Vân Đồn, Bắc Vân Phong, và Phú Quốc)

TT Nguyễn Xuân Phúc đang muốn tăng hạn giao đất tại 3 đặc khu tới 99 năm . Liệu như thế có phải chính phủ đã công khai bán nước hay không?. Phúc Niểng đợt này sẽ ôm được những khoản tiền rất lớn và có thể hắn mua thêm nhiều biệt thự tại Hoa Kỳ, và nhiều tiền bạc gửi tới các ngân hàng trên thế giới do thằng con trai hắn đứng tên.

Nhưng cũng phải kể tới TBT Nguyễn Phú Trọng, chính sách nhất quán của hắn là thà rằng bán đất bán biển đảo, để lấy tiền duy trì và bảo vệ chế độ CS tới cùng. Hắn đang học cách lãnh đạo độc tài theo những phướng hướng của anh Tập Cận Bình, lấy bình phòng chống tham nhũng, triệt hạ nghành công an, duy trì, củng cố tạo sức mạnh về quân sự, nhằm khống chế các thế lực thù địch

Hiệp định thành đô có thể đến sớm hơn những lịch ký kết ban đầu, do phía ép bên Trung Quốc đã thúc giục Trọng Lú hoàn thành sớm những ký kết do hai bên đã thỏa thuận, chưa kể tới ngân sách đang thâm thủng cạn kiệt, Trung Quốc đã mang tiền ra nhử thì cái đám tham tiền không bị dính câu mới là chuyện lạ.

Chúng ta là những người Việt trong và ngoài nước, có lẽ không có lúc nào cảm thấy đau buồn và căm phẫn với một đám người dám đại diện cho cả một dân tộc VN để đứng ra thành lập 3 đặc khu để tìm cách cho giao đất cho phía Trung Quốc, với chiêu bài phát triển kinh tế.Mà chúng coi thường nhân dân không cần phải thông qua trưng cầu dân ý.

Chế độ CS độc tài tại VN không còn lý do gì để tồn tại, chúng đang rắt tâm bán hết đất đai và tài nguyên cho một cuộc tháo chạy trước khi giao đất nước cho Trung Quốc, lẽ nào chúng ta cứ ngồi im, phải chăng chúng ta đang chờ đợi cái gì nữa? hỡi những còn người còn vô cảm và băng giá, toàn dân ta hãy cùng đứng lên tranh đấu để xóa tan đám lãnh đạo đang bán nước hại dân.

Chỉ còn có đoàn kết trong dân tộc, đó là sực mạnh lớn nhất để xóa bỏ chế độ CS độc tài, đưa đất nước ta sang một kỷ nguyên mới với đầy hứa hẹn cho tương lai

01.06.2018

Hoa Mai Nguyen

TÔI BỊ CHỬI .Nguyễn Xuân Nghĩa

Tháng Năm 31, 2019

Ai bị chửi mà không tức!. Hôm qua Nghĩa tôi bị chửi lại thấy vui. Tôi, kẻ thích đùa, lại thường xuyên gặp chuyện tức cười. Kể nhiều sợ nhàm, không kể thì vui không chịu một mình được.

Hình: Trước cổng bệnh viện Xanh Pôn lúc 10h 30/5.

Giữa tháng này (5/2019) tôi lên Hà Nội 2 lần. Hôm qua, cuối tháng là lần thứ 3. Vừa mới đặt chân trái vào bus station thì một gã xe ôm khoảng 40 tuổi, to cao, mặt mũi có vẻ giỏi cạnh tranh với xe být, hoàn toàn “kinh tế thị trường”, không chút gì “định hướng xã hội chủ nghĩa”, xộc đến:

– Ông về đâu cháu chở?
– Tôi về Xanh-Pôn, nhưng chỉ đi xe být, nhất định không đi xe ôm, xe máy!
– Đi xe ộm từ đây về Xanh Pôn chỉ mất 35 K. Xe být mới chạy đi. Ông chờ đến bao giờ?.
– Xin lỗi! Tôi vừa bảo tôi cương quyết đi xe být, không đi xe máy, xe ôm.
– Cháu lấy ông 30 K. Thời gian là vàng ngọc. Thời gian làm ra tiền. Tiền không làm ra thời gian
– Chí phải! Nhưng tôi cương quyết không đi xe ôm, chỉ đi xe být!
– Sao ông cứ phải đi xe být bằng được. Chen nhau nóng bỏ mẹ? 
– Đảng bộ, chính quyền Hà Nội kêu gọi người dân đi xe být, không đi xe máy để giảm thiểu ách tắc giao thông. Tôi là cán bộ đảng viên phải chấp hành.
Nhận xét ban đầu của Nghĩa tôi đúng, gã xe ôm bặm trợn nhìn tôi như nhìn người tâm thần. Gã quay lưng để lại một câu chửi, lặp lại đại từ tôi nhận vơ:

– Bố cái thằng “Cán bộ đảng viên”!
Tôi gọi hắn quay lại. Hắn nhìn tôi thế thủ. Tôi nói:
– Tôi trả anh đủ 35K anh đòi ban đầu. Ta đi nào!
Trên đường đi kéo dài 30 phút tôi và hắn không hề mở lời. Đến cửa bệnh viện Xanh Pôn, tôi xuống xe trả mũ bảo hiểm, trả tiền cho hắn, lại boa thêm 2 K. Hắn ngập ngừng:
– Cháu xin lỗi đã chửi ông. Cháu chửi ” Bố cái thằng cán bộ đảng viên” to thế chắc ông nghe thấy. Ông là người cao thượng duy nhất cháu gặp:

– Tôi không cao thượng đâu! Chỉ vì chú không chửi tôi!
– Vậy cháu chửi ai ?
– Chú chửi cái thằng “Cán bộ đảng viên cương quyết đi xe být, không đi xe máy, xe ôm để giảm thiểu ách tắc giao thông”. Tôi không đi xe být, mà đi xe ôm của chú. Tôi lại không phải “cán bộ đảng viên”, sao tôi dám nhận vinh dự được chú chửi. Ai như thế để người đó nhận!
Gã xe ôm bỏ đi. Hình như hắn không hiểu gì hoặc coi tôi là người không bình thường.

10 NĂM BAUXITE VIET NAM .Phạm Đình Trọng

Tháng Năm 31, 2019

Ba tên tuổi, ba khí phách dựng lên trang báo mạng Bauxite Việt Nam là giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà văn, nhà giáo Phạm Toàn và tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng. Trong ba tên tuổi đó, người gần gũi nhất với tôi là Người Thầy của Đạo Học Phạm Toàn


THẦY PHẠM TOÀN
PHẠM ĐÌNH TRỌNG
1. Một chiều tháng năm, 2019, tôi cùng thầy giáo Vũ Mạnh Hùng đến thăm người thầy của một đạo học, thầy Phạm Toàn.


Tâm hồn và trí tuệ làm nên phần Người trong mỗi con Người. Loài Người khác muôn loài, vượt lên trên muôn loài cũng bởi có tâm hồn và trí tuệ. Tâm hồn để yêu thương. Trước hết là yêu cái đẹp, yêu cái thiện, không chấp nhận cái ác. Con Người còn có nhu cầu sáng tạo và có trí tuệ để sáng tạo, Không có lao động sáng tạo, không có sự tiến hóa tạo ra loài Người. Đạo học chân chính là mở cánh cửa tâm hồn và đánh thức năng lực sáng tạo ở lớp người trẻ.


Cuộc đời nhà giáo cho thầy Phạm Toàn nhận ra rằng sách giáo khoa nhà trường xã hội chủ nghĩa không dạy yêu thương mà dậy hận thù, hận thù giai cấp. Không dạy cái đẹp mà dạy cái ác. Dạy lớp người trẻ nhìn con người, nhìn xã hội bằng con mắt giai cấp hẹp hòi, méo mó, nhà trường xã hội chủ nghĩa chuẩn bị hành trang cho lớp người trẻ là lòng hận thù giai cấp và đẩy họ vào đời thành công cụ đấu tranh giai cấp, làm cái ác, gieo rắc tội ác. Giai cấp vô sản được đưa lên thành chủ thể thế giới, thành giai cấp ưu việt, giai cấp thượng đẳng, giai cấp sáng tạo ra thế giới có sứ mệnh lịch sử là tiêu diệt. xóa bỏ các giai cấp khác. Từ nhà trường xã hội chủ nghĩa, những lớp người trẻ vào đời để thực hiện sứ mệnh lịch sử đó, sứ mệnh làm điều ác với chính đồng bào ruột thịt của mình.


Môn văn trong nhà trường xã hội chủ nghĩa không đánh thức tâm hồn lớp người trẻ để họ biết yêu thương, biết cảm hứng trước cái đẹp, đề mỗi người tự hình thành cho mình lí tưởng thầm mĩ. Môn văn dạy hận thù và bắt người học thuộc lòng bài văn mẫu. Những bài văn mẫu đã giết chết tư duy sáng tao, giết chết năng lực cảm hứng, đóng kín tâm hồn lớp người trẻ. Nhà thơ Trần Đăng Khoa thú nhận: “Tât cả các nhà văn có tài thuở đi học đều dốt văn. Nhũng học trò giỏi văn đều chẳng thành gì cả. Tôi là học sinh giỏi văn, giải nhất toàn miền bắc. Tôi mất mười năm luyện thành học sinh giỏi văn và khi ra trường tôi cũng phải mất mười năm rũ bỏ câu văn nhà truòng để thành một nhà văn”.
Trong nhà trường là những bài văn mẫu. Trong xã hội là những nghị quyết của đảng. Đi học chỉ biết học thuộc bài văn mẫu. Vào đời làm việc chỉ biết làm theo nghị quyết. Nhà trường xã hội chủ nghĩa như những xưởng chế tạo ra những robot, những con người công cụ. Đạo học cộng sản chỉ tạo ra con người công cụ.


Thầy Phạm Toàn và giáo sư Hồ Ngọc Đại cùng có một triết lí giáo dục, một đạo học là giúp những người trẻ phát hiện ra chính họ, giúp họ mở ra cánh cửa tâm hồn và đánh thức năng lực sáng tạo của họ. Thực hiện đạo học đó, giáo sư Hồ Ngọc Đại hăm hở mở trường thực nghiệm còn ông thầy Phạm Toàn thì lặng lẽ tập hợp một nhóm những thầy cô giáo trẻ đã tốt nghiệp đại học sư phạm, đồng cảm với đạo học tạo ra con người sáng tạo, thành nhóm Cánh Buồm âm thầm và bền bỉ soạn sách giáo khoa.
Sau 40 năm hăm hở làm trường thực nghiệm, nhà khoa học Hồ Ngọc Đại với niềm tin lãng mạn đã đưa trường thực nghiệm Hồ Ngọc Đại tới 43 tỉnh thành trên cả nước nhưng ông vừa nghỉ hưu đượcc ít ngày thì bộ Giáo đục Đào tạo liền loại bỏ trường thực nghiệm gợi mở tư duy sáng tạo cho lớp người trẻ ra khỏi nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó luật Giáo dục xác định rằng một chương trình giáo dục phổ thông thống nhất trên cả nước được sử dụng nhiều bộ sách giáo khoa. Và người thầy 87 tuổi Phạm Toàn vẫn miệt mài biên soạn sách giáo khoa cho lớp người trẻ.
2. Trên đất nước mình không nơi nào có tiết thu rõ rệt và thăm thẳm, và bâng khuâng gợi cảm như tiết cuối thu Hà Nội. Ngọn gió heo may xào xạc trên vòm sấu đường Phan Đình Phùng, đường Trần Phú mà hơi lạnh lại se se gợi cảm trên má. Sương khói huyền thoại lãng đãng trên mặt hồ Tây. Sương chiều bảng lảng trên tán xà cừ đường Hoàng Diệu làm cho con đường như sâu hút trong thăm thẳm lịch sử. Mùi thơm mùa thu từ rau cần. Sắc vàng mùa thu trên quả chuối tiêu trứng quốc. Cuối thu năm nào tôi cũng bay từ cái nắng của đầu mùa khô Sài Gòn ra với sương khói mùa thu Hà Nội.
Làm sách giáo khoa, thầy Phạm Toàn được trường tư thục sử dụng sách của thầy thuê căn hộ gần trường để thầy ở và làm việc. Biết tôi ra Hà Nội, thầy Phạm Toàn bảo tôi đến ở với thầy.
Tôi nhớ nhất những ngày ở với thầy Phạm Toàn trong gian nhà thuê trên đường ven hồ phía Bắc hồ Tây. Sáng nào tôi thức dậy cũng thấy có bát xôi lạc nóng với những sợi ruốc thịt trên bàn cạnh giường tôi ngủ. Buổi trưa ít khi tôi về ăn cơm với thầy Toàn nhưng bữa cơm chiều nào thầy Toàn cũng chờ tôi về rồi cùng nhóm Cánh Buồm đến quán vịt cỏ Vân Đình bên đường Lạc Long Quân uống bia hơi, ăn thịt vịt nướng và ăn cháo vịt. Buổi tối chúng tôi lững thững đi dạo một đoạn ven hồ đến quán cà phê ca nhạc Lộc Vàng.
Đi một đoạn ngắn về phía Trích Sài là quán Lộc Vàng. Đi đoạn dài gấp đôi về phía đê Âu Cơ là nhà kiến trúc sư Trần Thanh Vân. Bà kiến trúc sư uyên bác về phong thủy và rất đằm thắm với thầy Phạm Toàn nhưng đã quyết liệt, dữ dội ngăn chặn dự án thủy cung Thăng Long xâm phạm long mạch hồ Tây, đã chặn đứng mưu đồ cắm cọc bê tông làm đường cắt đôi không gian huyền thoại hồ Tây. Một tối mùa thu, kiến trúc sư Trần Thanh Vân đã mời thầy Phạm Toàn và tôi đến nhà hàng Sen bên hồ Tây nghe nhạc dân ca và cảm nhận tiết thu Hà Nội về đêm dịu dàng trong đất trời ở chốn linh thiêng hồ Tây.
Dù thầy Phạm Toàn không nói nhưng rồi tôi cũng biết khi tôi rời khỏi nhà thầy Phạm Toàn, công an liền đến cật vấn, tra hỏi về mối quan hệ của thầy Phạm Toàn với tôi. Buổi tối tôi theo thầy Phạm Toàn đến quán Lộc Vàng, công an tung quân, lẻn vào ngồi trong quán, rải những bóng đen ở bờ hồ Tây đối mặt với quán làm cho người nghệ sĩ già Lộc Vàng thân phận mong manh, đau khổ như dòng nhạc vàng mà ông hát phải giật mình lo sợ. Bóng tối của công cụ bạo lực, của hận thù giai cấp, của khủng bố tinh thần, của đàn áp văn hóa lại đè nặng một góc hồ Tây. Thầy Phạm Toàn cần một không gian bình yên và sự thư thái trong lòng để làm ra những trang sách ánh sáng cho tuổi trẻ. Từ đó, ra Hà Nội tôi không đến ở nhà thầy Phạm Toàn nữa. Cũng từ đó, ra Hà Nội, tôi không xài điện thoại với nhiều người thân thiết nữa. Cần đến nhà ai cứ lặng lẽ đến. Không cần điện thoại hỏi xem họ có nhà hay không. Đến nhà, gặp được người cần gặp thì ngồi hàn huyên với nhau. Không gặp, lại lủi thủi ra về. Xài điện thoại như rải lông ngỗng trên đường, vạch lối cho những kẻ trong lòng chứa chất hận thù giai cấp săn đuổi.
3. Không đến ở nhà thầy Phạm Toàn nhưng mỗi lần ra Hà Nội tôi đều đến thăm người thầy của đạo học đánh thức phần Người trong mỗi con Người, để những người trẻ của đạo học Phạm Toàn bước vào đời là những con Người chứ không phải những công cụ. Tôi đã đến căn hộ của tòa nhà cao tầng ở 699 Lạc Long Quân gần làng đào Nhật Tân. Căn hộ của tòa nhà cạnh trường Olympia đường Trung Văn. Căn hộ trong tòa nhà nhìn ra công viên Cầu Giấy. Lần này tôi và thầy giáo Vũ Mạnh Hùng qua cầu Chương Dương rồi cứ mải miết đi ngược lên phía Bắc. Tòa nhà Ecohome có lẽ là tòa nhà cao tầng ở đỉnh cực Bắc của thành phố Hả Nội.
Thầy Phạm Toàn thả mình trong chiếc ghế tựa lót nệm mút. Nhìn nước da nhợt nhạt không còn sắc hồng hào của thầy và thỉnh thoảng lại nghe tiếng rên nhẹ, tôi biết trái tim người thầy nặng yêu thương đã hai lần dao kéo can thiệp nay ở tuổi 87, nó đã mệt mỏi, không còn làm tốt chức phận. Nhưng trên bàn trước mặt thầy, màn hình laptop vẫn sáng và thầy Toàn vẫn nói về công việc: Phần sách cấp ba này mới thích chứ. Tôi hỏi phần việc còn lại có nhiều không. Thầy bào còn khoàng một trăm trang nữa.
Biết nhà thơ Dương Tường và nhà văn Châu Diên – Phạm Toàn là đôi bạn chí cốt từ thời kháng chiến chống Pháp, tôi nói: Em nhớ hình như anh với anh Dương Tường cùng tuổi. Tôi vẫn thường gọi anh và xưng em với Phạm Toàn như vậy. Phạm Toàn bảo: Mình với Dương Tường và Nguyên Ngọc cùng sinh năm 1932. Mình hơn Tường một tháng và hơn Ngọc năm tháng. Hai thằng Tường, Ngọc đều gày bé, nhẹ cân mà bền bỉ, dẻo dai hơn mình nhiều.
Tôi đi xem căn hộ bảy mươi sáu mét vuông. Ba phòng ngủ. Hai toilet. Một phòng làm việc. Thầy Phạm Toàn bảo: Trước đây mình viết sách cho trường nào, trường đó thuê nhà cho mình làm việc. Nay sức khỏe kém rồi, có chuyện gì, mình không muốn làm phiền cho họ, thầy trò bảo nhau góp tiền mua căn hộ này một tỉ hai.
Chỗ thầy Toàn ngồi làm việc ngay cạnh khung cửa và ban công nhìn ra cánh đồng. Nhìn qua khung cửa, tôi bất ngờ nhận ra một đoạn sông Đuống của thơ Hoàng Cầm “Sông Đuống nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”. Đoạn sông lấp lánh nắng chiều giữa hai bờ cỏ cây xanh mướt đẹp như bức tranh Isac Levitan. Người yêu cái đẹp luôn tìm đến cái đẹp. Một vẻ đẹp bình dị và thầm lặng nên không phải ai cũng nhận ra. Tôi nói với thầy Phạm Toàn: Anh Toàn ơi, căn hộ của anh giá tỉ hai thì riêng khung cửa này đã đáng giá một tỉ rồi!
Nguồn. FB Phạm Đình Trọng

CHUYỆN BỊA SAU BỐN MƯƠI TƯ NĂM .Hoàng Tự Minh

Tháng Năm 31, 2019

31-5-2019
Hai ông lính VNCH quyết định xuống núi sau hơn 44 năm không chịu đầu hàng quân miền Bắc VN, cái bên có sứ mạng vĩ đại gọi là “chống Mỹ cứu nước”. Theo trí tưởng tượng của tôi thì hai ông lúc này là hai người lớn tuổi “vô nhiễm nguyên tội” nhất VN về mức độ trong sạch công dân không dính mùi trần cộng sản.

Việc trước nhất của hai ông là xác định tình trạng thời thế, VNCH còn hay mất, cộng sản đã nuốt trọn miền Nam chưa và chúng đang làm cái gì sau khi VNCH thất thủ.
Bốn mươi bốn năm xét cho đúng là sự thụt lùi đáng xấu hổ nhưng đối với hai ông thời tiền sử này là đáng kinh ngạc, thấy đường to, nhà cao, cầu rộng mà chính nó là sự ngộ nhận chết người.
Một ông tên Thân, Quảng Nam, một ông tên Thước, ở Huế. Ông Thân Quảng Nam nhưng ái mộ Trịnh công Sơn, ông Thước thì mê Duyên Anh. Hai thần tượng của các ông cũng đã về chốn thiên đường, mãi sau này hai ông mới biết.
Những chiếc xe Honda 67 chạy trên đường làm cho họ ngạc nhiên, ông Thước: “Đ. mạ mi Thân, rứa mà mi dám nói mình thua, thua răng mà còn xe Nhật Bản chạy rần rật rứa”.
Lạ lẫm nhất là cái tòa BOT, ông Thân: “Đù móa, zô hậu thiệt, xe cộ đi qua hắn che mát một xí mà cũng thu tiền, đù móa cộng sản”. Hai ông thống nhất là phải đổi tên cái “trạm thu phí” thành “cổng mãi lộ”.
Xã hội này thật hiếu học, đâu đâu cũng có bảng bắt mọi người học tập và soi gương. Đâu đâu cũng la liệt cho quảng cáo công, đảng. “Đù mạ tiền quảng cáo ri ai chịu cho nổi”. Đài liệt sĩ, tượng đài nhiều nhưng chẳng thấy công viên.
Bực mình nhất là đâu cũng thấy cờ, các cổng chào đều có song kỳ, cờ nước là phải xếp ở đầu, tâm niệm quân nhân hai ông giờ vẫn còn giữ là “tổ quốc trên hết”, không thể lộn sòng.
Trước khi tìm đường về lại quê thì phải tìm cách để kiếm tiền nuôi miệng hai cái mạng sống dở chết dở này. Một ông có cái tài nhìn dáng người dùng kéo cắt giấy, mô tả nhìn giống như thật, một ông chuyên sâu guitar classic, vậy là mạnh dạn biểu diễn kiếm tiền nhưng giả dạng ăn xin ngủ bụi là cách tốt nhất để tính đường đối phó. Cũng định kiếm chỗ giải tỏa nỗi buồn 44 năm không đàn bà, nhưng chân ướt chân ráo rồi lại thôi, nỗi khát khao ly bia đá và điếu thuốc cũng đột nhiên trỗi dậy.
Sau khi lặng lẽ về quê, thật buồn lòng hỏi thăm không còn chút tông tích người thân, nói là quê nhưng mà không phải quê, hai ông tình cờ gặp những người thương phế binh VNCH nhưng không ai biết chút tin tức gì. Qua sự gặp gỡ đó, họ cảm nhận mức độ đối xử của nhà cầm quyền đối với người thương binh thất trận và liên hệ đến thân phận của mình. Chốn cũ nơi các ông đã sinh sống, học hành bây giờ hoàn toàn xa lạ, chen chúc xô bồ, mưu sinh tranh lấn.
Tình cảnh dở khóc dở cười, mấy anh xe ôm già sốt sắng: “Chừ tôi nói với mấy ông là về Sài Gòn mà sống, ở lâu chi cũng có hộ khẩu, nhưng tốt nhất là mấy ông phải trình diện”. Ông Thước đái trong quần: “Đù mạ ri thì chết”.
Một ông già ba gác máy hù vãi đái: “Có ông nào sĩ quan, nhà văn, nhà thơ không, tui đây binh nhì, giải pháng cũng ‘kẻ tộ he nam’ (cải tạo hai năm), đù móa ra đi là khó thấy đường zề quê mẹ”. Hai ông VNCH toát mồ hôi: “Đù mạ, biết như ri trốn luôn cho rồi”.
“Hai anh vẫn bị chế độ coi là ngụy quân, phải đi tắm rửa cải tạo thôi”. Thế đó, 44 năm ý thức hệ thắng thua, tao mày, thân thế gốc gác vẫn còn vô cùng hằn học.
Bắt đầu hình thành một đám đông ngày càng đông, vây nhìn hai ông như người khác hành tinh, cuộc bỏ trốn lần thứ hai trở nên vô cùng phức tạp khi đã ở trong cái vòng tròn xã hội cộng sản. Trước khi kịp biến mất, ai đó cũng đã nhanh tay cho hai ông lên YouTube, cả thế giới nóng lên sùng sục.
Về sau báo đài nhà nước im bặt, lặng lẽ như cái lò không khói, còn im ắng hơn về cái thông tin người lãnh đạo số 1 vắng mặt một tháng, trong khi có tin bờ ao là bị ốm nặng hoặc ngủm. Thế đó, đói tin và đói bụng nó sinh ra rất nhiều chuyện nhiêu khê. Cả thế giới cũng sôi lên ùng ục vì ông khốt già.
Có tin là hai ông đã được một hãng tin nước ngoài săn lùng và mua độc quyền, cũng có tin hai ông đã bị bắt và phải học tập cải tạo đúng khuôn mẫu quy trình như hồi 1975, nhưng cũng có tin hai ông được Chính phủ cho… nhập tịch Việt Nam, công dân đặc biệt, đại sứ hòa giải dân tộc. Bạn có tin không?
Nguồn. baotiengdan

CHÍNH QUYỀN KHÔN LÕI, ĐẤT NƯỚC THIỆT THÒI .Đỗ ngà

Tháng Năm 31, 2019

Trên trờ Vietnam Finance ngày 02/05/2019 có đăng bài “So sánh khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước: Ai đang là chủ đạo?” đã đưa ra một bảng so sánh trong 3 năm, năm 2016 kinh tế nhà nước chiếm 28,81%, năm 2017 là 28,63%, và năm 2018 là 27,63%. Dựa vào con số thống kê cho thấy tỷ trọng kinh tế nhà nước trong GDP đang giảm. Điều này có vẻ như CS họ muốn giảm vai trò của kinh tế nhà nước? Chưa chắc!

Kinh tế nhà nước là kinh tế có vốn của nhà nước. ĐCS cử người của họ quản lý doanh nghiệp này. Theo nguyên tắc, những đảng viên ĐCS điều hành doanh nghiệp nhà nước chỉ là kẻ làm công ăn lương. Lợi nhuận của công ty được đưa về cho nhà nước, và thua lỗ nhà nước sẽ bù. Thực tế, doanh nghiệp nhà nước được vô số những ưu ái từ chính sách đến luật pháp. Và đặc biệt hơn, trong đó có rất nhiều lĩnh vực nhà nước cấm tư nhân làm để nhà nước độc quyền tùy ý siết cổ toàn dân, như viễn thông, xăng dầu, điện, truyền hình, báo chí vv… Với vô số lợi thế đó, lẽ ra doanh nghiệp nhà nước phải lời khẳm. Nhưng không, doanh nghiệp nhà nước luôn báo lỗ. Qua phù phép của kế toán và các chiêu đầu tư trái ngành của ban quản trị, các sếp trong doanh nghiệp nhà nước luôn cho báo lỗ để dùng lợi nhận đút túi riêng, đồng thời hút tiền bù lỗ từ ngân sách nhà nước để lấp vào. Như vậy doanh nghiệp nhà nước nói cho cùng đó là bộ máy tước đoạt tài sản toàn dân để làm giàu cho quan chức.

Kinh tế ngoài quốc doanh theo lý mà nói, nó có nguồn vốn từ dân. Ở Việt Nam, trong thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có 2 có 2 loại: Loại thứ nhất là doanh nghiệp chân chính chịu trăm bề khó khăn; loại thứ 2 là doanh nghiệp thân hữu (hay còn gọi là doanh nghiệp sân sau) được vô vàn ưu ái. Như vậy câu hỏi đặt ra là trong khoảng 42% của GDP là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thì tỷ lệ bao nhiêu là của doanh nghiệp chân chính, và bao nhiêu là của doanh nghiệp thân hữu? Không có con số thống kê, nhưng chắc chắn trên 50% kinh tế ngoài quốc doanh là rơi vào tay doanh nghiệp thân hữu. Bởi đơn giản, doanh nghiệp thân hữu là những con cá mập khổng lồ như Vin Group, Sun Group, FLC vv.. chúng toàn là doanh nghiệp tỷ đô. Còn lại, những doanh nghiệp chân chính không có nhân hữu gì trong bộ máy nhà nước thì họ có vốn rất hạn chế, chỉ toàn là doanh nghiệp triệu đô. Trong một mớ gồm cá gộc và tép riu, thì một con cá gộc cũng nặng hơn hàng ngàn con tép riu.

Doanh nhiệp thân hữu theo danh nghĩa nó là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhưng nó lại được hưởng sự ưu ái của nhà nước không thua gì doanh nghiệp quốc doanh. Ví dụ như nhà nước làm chính sách giết chết nước mắm truyền thống để trao thị phần nước mắm cho Masan, hay như các trạm BOT đặt sai vị trí để cướp tiền dân, thì chính quyền huy động công an trấn áp nhân dân bảo vệ các BOT bẩn. Về bản chất, doanh nghiệp thân hữu cũng lợi dụng chính sách nhà nước được làm riêng cho nó để tước đoạt xã hội làm giàu. Cái giàu của doanh nghiệp thân hữu, tất nhiên là họ chia cho những quan chức chính quyền trong nhóm lợi ích.

Thực tế, để giảm tỷ trọng kinh tế nhà nước trong GDP, thì nhà nước CS làm gì? Họ cho cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước để từ đó doanh nghiệp này từ chỗ doanh nghiệp quốc doanh biến thành loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh và từ đó tỷ trọng doanh nghiệp quốc doanh đóng góp cho GDP giảm xuống. Nhưng điều này lại phát sinh thêm câu hỏi tiếp, đó là những ai có quyền mua cổ phần trong doanh nghiệp nhà nước mà có chủ trương cổ phần hóa đó? Chính là con cháu của quan chức chính quyền chứ không ai khác. Như vậy trước khi cổ phần hóa thì nó là doanh nghiệp nhà nước, còn sau khi cổ phần hóa thì nó thành doanh nghiệp thân hữu. Mà xét về bản chất, doanh nghiệp thân hữu và doanh nghiệp nhà nước cũng đều là thứ doanh nghiệp được nhà nước CS làm chính sách ưu ái để tước đoạt của cải của xã hội mà thôi. Doanh nghiệp nhà nước quan chức cũng giàu mà doanh nghiệp thân hữu, quan chức cũng giàu. Với nhân dân, 2 loại này đều như nhau cả.

Như vậy qua đây chúng ta thấy gì? Trước sự đòi hỏi của thế giới là Việt Nam phải có nền kinh tế thị trường đúng nghĩa để những ông lớn như Mỹ, Nhật và EU mở rộng cửa hơn, thì CS Việt Nam vẫn chơi trò ma mãnh phù phép chuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp thân hữu. Mà 2 thứ doanh nghiệp này đều được sự ưu đãi đặc biệt của chính sách, nên về bản chất nó vẫn là loại kinh tế phi thị trường. Điều này không bao giờ qua mặt được Mỹ, Nhật và EU, thế nhưng chính quyền CSVN họ vẫn cứ nghĩ họ có thể qua mặt nên cứ hết năm này đến năm khác họ giảm tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước kiểu này rồi đi khắp nơi năn nỉ người ta công nhận, nhưng năn nỉ mãi vẫn bị họ lắc đầu.

Bản chất của CS là vậy, sẽ không bao giờ có kinh tế thị trường đúng nghĩa để đất nước đón nhận sự rộng mở từ các thị trường lớn. Đừng nhìn vào câu nói của quan chức CS là phát triển kinh tế tư nhân mà vội mừng đất nước Việt Nam có kinh tế thị trường đúng nghĩa. Sẽ không bao giờ. Cái “tư nhân” mà họ nói sẽ phát triển đó toàn là bọn thân hữu thôi, còn doanh ngiệp chân chính mãi mãi bị bóp nghẹt hoặc phải chết hoặc có sống được thì cũng sống vật vờ. Dưới bàn tay cai trị của CS, đất nước này mất mát quá nhiều.

– Đỗ Ngà –
http://www.donga.blog/…/chinh-quyen-khon-loi-at-nuoc-thiet-…

NỖI OAN PHÁP LUÂN CÔNG .Đỗ Ngà

Tháng Năm 31, 2019

Pháp Luân Công thực ra nó là một môn rèn luyện thể chất và tinh thần. Nó thực sự không phải là tôn giáo, nó không phải là tổ chức chính trị, nói đúng ra nó là một trường phái tập luyện nâng cao sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần, chỉ đơn giản là vậy. Nó tựa như các phái tập võ mà trong qua khứ lịch sử Trung Quốc đã hình thành và tồn tại cho đến hôm nay ấy thôi. Nhưng tại sao Cộng Sản lại thù Pháp Luân Công như vậy? Pháp Luân Công không chống chính quyền Cộng Sản, và rõ ràng Pháp Luân Công và Cộng Sản là nước sông không phạm nước giếng, cớ sao Cộng Sản ác với Pháp Luân Công đến như vậy?

Thực ra ban đầu nhà sáng lập Pháp Luân Công – Lý Hồng Chí đưa ra môn này năm 1992 được rất nhiều người Trung Quốc hưởng ứng, trong đó có cả những người CS. Đến nỗi ngày 21-9-1993, tờ Nhật báo Công an Nhân dân đã đăng bài ca ngợi ông Lý Hồng Chí đã có công góp “trong việc đẩy mạnh đạo đức truyền thống của người Trung Hoa chống lại tội ác, trong bảo vệ an ninh và trật tự xã hội, và trong việc đẩy mạnh sự chính trực trong xã hội”.

Nó rất hay vì nó là môn thiền truyền thống Trung Hoa và rèn tinh thần con người xoay quanh vấn đề Chân – Thiện – Nhẫn. Vì nó hiệu quả nên số người hưởng ứng rất đông. Mới sáng lập năm 1992 mà đến năm 1998 chỉ 6 năm thôi, số người hưởng ứng học Pháp Luân Công có khoảng 100 triệu người. Chính điều này đã chạm ngay vào tử huyệt của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc. Tuy Pháp Luân Công là một môn rèn luyện thân thể, hoàn toàn phi chính trị, và nó lại càng phi tôn giáo, nhưng lãnh đạo CS Trung Cộng vẫn run sợ khi nhìn thấy sức ảnh hưởng của nó.

Thực chất chính quyền CS nào cũng xây dựng sự cai trị trên nền tảng dối trá và phi đạo đức. Khi người học Pháp Luân Công ngộ ra 3 chữ Chân – Thiện – Nhẫn thì lúc ấy nền tảng của Chính quyền CS đã xây dựng bị tan thành bọt nước và Chính quyền CS tồn tại trong sự vất vả chống đỡ. Khi người tập Pháp Luân Công ngộ ra chữ Chân thì họ thấy cần phải phản đối dối trá, thế là nền tảng dối trá của CS bị đánh thủng. Khi người tập Pháp Luân Công họ nhận ra chữ Thiện thì họ lên tiếng cái phi đạo đức, lúc đó nền tảng phi đạo đức của CS tan thành mây khói. Khi người học Pháp Luân Công ngộ ra được chữ Nhẫn, thì dù cho hù dọa họ thế nào họ vẫn không nhụt chí. Nếu 100 triệu người học Pháp Luân Công ngộ ra 3 chữ Chân – Thiện – Nhẫn nếu một lúc nào đó, chỉ cần một mồi lửa chính trị bùng cháy, thì CS chết không kịp ngáp. Chính vì thế, dù biết Pháp Luân Công là phi chính trị, phi tôn giáo và họ là một tổ chức có tiêu chí rèn luyện rất lành mạnh nhưng CS vẫn tìm cách tiêu diệt là vì thủ đoạn tránh hậu hoạn một cách ích kỷ của họ. Họ sợ với sức ảnh hưởng của Pháp Luân Công mà một ngày nào đó biến tướng thành phong trào chính trị thì nguy hiểm cho họ, nên họ tung thủ đoạn cực ác để làm tan rã Pháp Luân Công nhằm bảo đảm tương lai xa của họ.

Trên thế giới, ở những nước tiến bộ chính quyền tại đó họ thấy Pháp Luân Công là một môt luyện tập sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất rất lành mạnh, và tại đó ai muốn theo thì theo có ảnh hưởng gì đến chính quyền đâu?

ĐCS Trung Quốc muốn diệt Pháp Luân Công để tránh hậu hoạn. Họ chụp mũ những người Pháp Luân Công là “tà giáo” để hợp thức hóa bàn tay vấy máu của họ. Pháp Luân Công có phải là tôn giáo đâu mà chụp người ta là “tà giáo?”. Chính CS đã lợi dụng sự kém hiểu biết của người dân nên vu cho những con người vô tội có cách sống lành mạnh là “tà giáo” để đàn áp họ. Điều này có thể nói là tột cùng của sự khốn nạn.

Thực ra Pháp Luân Công chưa bao giờ cạnh tranh chính trị với CS, chỉ vì vô tình dính vào điều đại kỵ của CS mà họ phải bị đàn áp oan uổng. Đó là bản chất sự việc CS Tàu đàn áp Pháp Luân Công. Còn CSVN thì thứ ăn hùa với quan thầy cũng đổ hết mọi sự oan ức lên Pháp Luân Công một cách vô cớ.

– Đỗ Ngà –
http://www.donga.blog/2019/05/noi-oan-phap-luan-cong.html…

CẦN HUY ĐỘNG “VÀNG” TRONG DÂN . Đặng Phước

Tháng Năm 31, 2019

“Vàng” trong dân nhiều lắm(!)
Chứa đầy hầm cầu thôi…
Vàng quan tham thì ít,
Đem qua Thụy Sỹ rồi!

Đại biểu trơ trẽn thay
Trần Quang Chiểu mặt dày
Dân có đi ăn cướp!?
“Giải pháp” gì ở đây?

Ông, đại biểu của dân
Nói, uốn lưỡi ba lần
Đừng hồ đồ như thế
Mở miệng thối như phân!

Tôi thật, không chỉ nào
Nhưng nghe , máu sôi trào!
Dân làm lụng trật mặt
“Giải pháp” như mèo ngao!

Nguồn, FB Đặng Phước

LẤY LÀM LO LẮNG .Ls. Luân Lê

Tháng Năm 31, 2019

Tôi đang cho rằng có nhiều chuyên gia hoặc quan chức đang có mục đích nói xấu chế độ bằng cách so sánh hoặc lấy các nước Tư bản giãy chết làm mốc về kinh tế hay giáo dục, khoa học để vượt lên.

Ảnh minh họa

Tôi đồ rằng những kẻ này đang có âm mưu phản động. Vì ta là nước XHCN cái gì cũng gấp vạn lần Tư bản, đến mức một ký rau muống có dinh dưỡng bằng một cân thịt bò bên Mỹ. Hay ta không có tiền thì in tiền ra chứ ta có phải Tư bản đâu mà lo thiếu tiền. Đây là những lời dạy vàng ngọc của các cố Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam đã nói những năm nửa cuối thế kỷ trước.

Điều quan trọng là XHCN là một đích đến của CNTB vì nó giàu sang và thịnh vượng hơn hẳn.

Vậy mà giờ đây, các chuyên gia rồi các quan chức thi nhau tuyên bố rằng phải vượt nước tư bản này hoặc không thể xếp sau nước tư bản kia. Rồi con cháu cứ đi du học, chữa bệnh hay tìm cách định cư bên các quốc gia tư bản giãy chết này. Hay là họ định xây dựng lực lượng XHCN ngay trong lòng các đế quốc tư bản để phá hoại và tuyên truyền (diễn biến hoà bình) về CNXH hòng làm chúng thay đổi và phá sản.

Tôi rất lấy làm lo lắng cho các hậu duệ của ông Hồ về lý tưởng cộng sản mà ông đeo đuổi bấy lâu khi còn sống. Ta đang hơn hẳn bọn chúng về mọi mặt thì sao có thể nói hạ thấp mình như vậy được? Phải đem ra đấu tố và xét xử ngay đám người này mới mong an lòng dân chúng.

“BÌNH MINH ĐANG ĐẾN”?. Thanh Bình

Tháng Năm 30, 2019

Thủ tướng tự nhận trước dân
Bao năm tăm tối đảng cần sửa sai!
Hại dân không có tương lai
Đêm dài khốn khổ mong hoài bình minh….

Nghe mà bỗng thấy giật mình
Hóa ra ông biết, dân tình đớn đau?
Hóa ông biết đảng cưỡi đầu
Đè dân bóc lột, gieo sầu bốn phương?

Biết dân mình đã hết đường
Chìm sâu dưới đáy, thảm thương khốn cùng?
Ông mới hớn hở khoe vung
“Tin BÌNH MINH SÁNG đến cùng Việt Nam”….

Này, xin đừng có hứa xàm!
Lừa đón Trung cẩu tràn sang nước mình!
Chớ bán nước để dân khinh!
Chớ vì đồng tệ cạn tình nhé ông!

Thanh Bình 29.05.2019

VĂN CAO: MỘT THIÊN TÀI BỊ LƯU ĐÀY .Trần Mạnh Hảo

Tháng Năm 30, 2019

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi…

*
“Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư…” – Trịnh Công Sơn.

Năm 2013 này là năm kỷ niệm 90 năm ngày sinh của thiên tài văn nghệ Văn Cao – người đã tự lưu đầy mình vào vĩnh cửu bằng ba tài năng lớn: hội họa, thi ca và âm nhạc. Văn Cao nhà cải cách tiền phong cả ba nghệ thuật: hội họa, âm nhạc và thi ca. Bài này chỉ nói về kiếp nhạc của Văn Cao.
Không đợi khi xuân đến, tết về như dịp này, chúng tôi mới nghe lại bản nhạc bất hủ: “Mùa xuân đầu tiên” Văn Cao khởi viết cuối tháng 12-1975, hoàn thành trong dịp tết Bính Thìn năm 1976.
Đây là bài hát có số phận đặc biệt nhất trong cuộc đời sáng tác của Văn Cao. Đây cũng là bài hát mang nhiều tâm trạng đối lập, hòa trộn nước với lửa: vui ít, buồn nhiều, mừng ít, tủi nhiều, hoan ca ít, bi ca nhiều, tha thiết ít, nghẹn ngào nhiều, bâng khuâng ít, đau đáu nhiều, tự sự ít, ai oán nhiều, mê say ít, thở than nhiều, cứng cỏi ít, run run nhiều, da diết ít, nỉ non nhiều, cười ít, khóc nhiều, sum họp ít, cô đơn nhiều, yêu thương ít, đau thương nhiều, gặp gỡ ít, bơ vơ nhiều…
Hầu như tất cả các trạng thái tình cảm trái ngược nhau của con người đều có trong bản nhạc kỳ lạ này: ai vui hát lên thì nghe vui, ai buồn hát lên thấy buồn não ruột, ai đau khổ hát lên thấy một trời đau khổ, ai sầu thảm hát lên thấy cả một thế giới sầu thảm đang đồng cảm cùng mình…
Nghe đi nghe lại bản nhạc này, ta thấy xuất hiện trong tâm trí mình rất nhiều tâm trạng không thể dùng ngôn ngữ diễn đạt. Nếu bạn đã hoặc đang đi qua bể khổ trần gian, nghe bản nhạc “Mùa xuân đầu tiên” bạn sẽ cảm thương, nhờ nước mắt diễn đạt nỗi lòng mình.

Riêng lời bài hát đã là một bài thơ hay:

“Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng cho bao tâm hồn.
Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Người mẹ nhìn đàn con nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
Niềm vui phút giây như đang long lanh.
ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.
Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người.
Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.”

Rất nhiều chim én, nhiều nắng gió, có nước mắt vui gặp gỡ của đàn con nay đã về, có cuộc đời êm ấm… nhưng sao hình ảnh “khói bay trên sông, gà đang gáy trưa trên sông” lặp lại hai lần làm không gian của “Mùa xuân đầu tiên” xa xôi, bơ thờ thế, xao xác thế, hoang vắng thế, hiu quạnh thế, đơn độc có phần cô đơn thế? Chợt nhớ nỗi buồn thiếu quê hương của Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu xưa, cũng một tiếng gà trưa Văn Cao nay, một khói sóng trên sông xa Văn Cao nay, u hoài khôn xiết: 

“một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông”:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến buồn lòng người!)

Chợt nhớ Lưu Trọng Lư “thời con nai vàng ngơ ngác” với câu thơ tiền chiến xưa sao rất đồng cảm với nỗi vui não nùng Văn Cao nay: “Tiếng gà trưa xao xác não nùng”.

Bài hát như một điệu valse bằng nước mắt; sự thướt tha, quý phái của một giai điệu bi thương; sự sang trọng của ngậm ngùi, day dứt; sự lãng mạn của một phiêu linh, xô dạt; sự mê đắm của một vu vơ; sự đoan trang của cái đẹp lỡ thì; sự liêu trai của ngơ ngác, đìu hiu; sự dịu dàng của nỗi thương đau, xót nhớ…
Chừng như đã mấy chục năm chiến tranh liên miên chưa từng có xuân về? Chừng như gần hết cả đời người bận chuyện đấu tranh giai cấp giành giật miếng ăn chưa từng thấy chim én báo xuân? Chừng như đã rất lâu rồi sự căm thù trùm lên xã hội không còn ai biết thương người? Chừng như đã lâu lắm rồi ta tha hương trên chính quê hương mình? Chừng như suốt mấy cuộc chém giết kinh hoàng mạo danh cách mạng, không còn ai biết yêu con người? Chừng như mấy mươi năm rồi con người đã quên mình còn nước mắt? Chừng như lâu rồi tâm hồn người không được sưởi nắng mùa xuân?
Và chừng như lâu lắm rồi Văn Cao quên không còn nhớ mình từng là nhạc sĩ lãng mạn đã có cả chục ca khúc vào hàng kiệt tác? Chừng như cây đàn piano cũ kỹ do Hội nhạc sĩ Việt Nam cho Văn Cao thuê mỗi tháng 07 đồng, (thuê căn gác chật hẹp cũ kỹ 108 Yết Kiêu 15 đồng) đã bị thời gian phủ bụi đầy rêu mốc? Chừng như đôi tai Văn Cao đã bị súng đạn thời cuộc, sự hò hét xướng ca hò vè phục vụ chính trị một thời làm ù đặc, khi tất cả các kiệt tác âm nhạc của ông đều bị chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa (Miền Bắc) cấm hát, trừ bài quốc ca (kể cả thơ Văn Cao cũng bị cấm)?
Và chừng như toàn bộ vết thương cuộc đời Văn Cao, vết thương cuộc đời dân tộc, bỗng mượn ngón tay ông mà nhỏ xuống cây đàn piano những giọt nước mắt giai điệu, khiến những vết thương chợt mở miệng ca hát: “Mùa xuân đầu tiên”
Chừng như nỗi niềm ngày 30 tháng tư năm 1975: “có một triệu người Việt Nam vui thì cũng có một triệu người Việt Nam buồn” (lời ông cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã hiện ra nơi bài hát: “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao? Trong bài hát ấy, kỳ lạ thay, tôi nghe có một nửa nước vui thắng trận trào nước mắt và một nửa nước buồn thua trận cũng trào nước mắt, chợt ôm chầm lấy nhau mà quằn quại, mà dằn vặt giằng xé nhau, cười khóc mếu máo bầm dập nhau, nên vui ấy sao buồn hiu hắt thế, lênh đênh phiêu bạt thế, nức nở nghẹn ngào thế?
Có lẽ, chính vì những điều trên mà kiệt tác “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao sau khi được báo “Sài Gòn giải phóng” in trước tết Bính Thìn: 01-01-1976, được hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam mấy lần liền bị cấm suốt 24 năm (1976-2000). Sinh thời, Văn Cao không được nghe, được nhìn thấy đứa con tinh thần lớn lao này của mình được trình diễn. Sau khi ông mất (1995) 05 năm, “Mùa xuân đầu tiên” mới ra khỏi nhà tù kiểm duyệt của chế độ.
Xin quý bạn đọc hãy nghe nhà thơ, họa sĩ Văn Thao, con trai trưởng của nhạc sĩ Văn Cao kể sơ qua về sự ra đời của bài hát này:
“Sau khi bài “Tiến về Hà Nội” ra đời cuối năm 1949, bố bị đưa ra kiểm điểm và bị phê phán khắp nơi. Từ đó bố đã thề, sẽ không sáng tác ca khúc chính trị nữa… Nhưng rồi những năm tháng sau này đôi lúc hứng khởi bố vẫn sáng tác. Vẫn biết có sáng tác ra cũng chẳng được dàn dựng…
Tôi còn lưu giữ được một số tác phẩm của ông sáng tác sau này nên tôi hiểu những điều ông nói. Giá như ông không bị rơi vào cái nạn “Nhân văn” và bị “vô hiệu hoá” mất 30 năm thì tôi chắc rằng ông sẽ còn sáng tác được thêm nhiều tác phẩm cho nền âm nhạc Việt Nam.
Những ngày tháng sau đó, căn gác nhỏ nhà Văn Cao không lúc nào ngớt khách. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng rỡ. Những giọt nước mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy và có cả những khuôn mặt, một thời không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ “bị vỗ vai”.
Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng dịp tết Bính Thìn.” – Trích bài “Văn Cao với ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Thao in trên “Tạp chí Sông Hương” số 179-180
Văn Thao tiết lộ tiếp rằng, bài hát bị cấm ở Việt Nam nhưng bên nước Liên Xô người ta lại dịch sang tiếng Nga, phát trên Đài phát thanh Matxcova:

“Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con đường nào), trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN đã được in ở nước Nga và được Liên Xô trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: “Con cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu.””

Qua tiết lộ trên của anh Văn Thao, con trưởng nhạc sĩ thì nhà ông Văn Cao trên căn gác nhỏ 108 Yết Kiêu suốt một thời luôn luôn có công an ngầm canh gác, ai đến đều “bị vỗ vai” hỏi tên tuổi, xem đến nhà tên phản động “Nhân Văn” làm gì? Người viết bài này sau năm 1975 có lần đến thăm nhạc sĩ Văn Cao để cho ông mượn cuốn tiểu thuyết vĩ đại: “Giờ thứ 25” của văn hào Romania Constantin Virgil Gheorghiu (1916-1992) mang ra từ Sài Gòn như đã hứa, cũng đã từng bị công an mật “vỗ vai” hỏi đi đâu? Bèn bảo: đi phỏng vấn tác giả “Quốc ca” viết bài in báo cũng bị cấm à? Người “vỗ vai” hất đầu cộc lộc: “Vào đi”.
Người ta đã cầm giữ Văn Cao như một tù nhân lương tâm bị giam lỏng, một thứ nhà tù tại chỗ, nhà tù nhân dân kiểu xã hội chủ nghĩa. Rằng Văn Cao bị vô hiệu hóa suốt 30 năm vì tội Nhân Văn – Giai Phẩm. Rằng suốt 30 năm ấy, nhạc sĩ Văn Cao sống rất nghèo khổ, “bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu”.
Chúng ta lại được nghe người con trai thứ của nhạc sĩ Văn Cao, nhà thơ Nghiêm Bằng kể sơ qua về sự ra đời của “Mùa xuân đầu tiên”:
“Đó là một đêm vào giữa tháng 12-1975. Chúng tôi đang sống với cha mẹ trong ngôi nhà số 108 Yết Kiêu. Mùa đông Hà Nội rét tê tái. Cha tôi đã từ lâu rồi không đàn. Vậy mà trong đêm ấy, tôi nghe có tiếng chân nhè nhẹ lần từng bước từ phòng trong ra gần chiếc đàn piano – đối diện với chiếc đivăng tôi đang ngủ.
Một giai điệu khe khẽ vang lên, nó được đàn bởi một bàn tay phải. Cũng phải nói thêm là cha tôi đã đàn trên chiếc đàn vốn được Hội Nhạc sĩ VN cho thuê lại với giá 7 đồng rưỡi một tháng (lương tôi hồi đó là 63 đồng, còn tiền thuê nhà là 15 đồng); từ ngày kỷ niệm 30 năm Tiến quân ca (1974), chiếc đàn mới được tặng hẳn cho cha tôi thì cha lại rất ít có dịp dùng đến.
Bài hát đã được báo Sài Gòn Giải Phóng số năm mới 1-1-1976 in trang trọng ở bìa 4 và thu thanh ngay sau đó, được phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, nếu tôi không nhầm thì do ca sĩ Trần Khánh và đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam trình bày. Bài hát được phát khoảng mươi lần trong chừng một tháng (hồi ấy ca khúc được truyền bá chủ yếu qua sóng phát thanh), rồi không hiểu sao lặng lẽ chìm đi, như thể bị quên lãng.
Như mọi lần, trong suốt mấy chục năm, cha không tỏ ra bực bội gì, chỉ hơi buồn thôi. Cha tôi nói chắc chắn bài hát sẽ có ngày được hát lại và mọi người sẽ yêu nó. Và như mọi lần, cha tôi lại đúng. Chỉ có điều lúc đó cha tôi không còn nữa. Khi bài hát lần đầu tiên được phát trên sóng truyền hình Việt Nam năm 2000, cha tôi đã mất được năm năm.” 

– Nhà thơ NGHIÊM BẰNG – THU HÀ ghi

Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong tác phẩm “Đêm giữa ban ngày”, kể lại lời Văn Cao nói với ông về Tố Hữu hay Trường Chính chủ trương đánh “Nhân Văn”, kể lại chuyện ông lãnh tụ Trường Chinh cho gọi Nguyễn Tuân và Văn Cao lên cảnh cáo sau vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm” < *1 *> (xem thú thích dưới bài)
Xuân Diệu đấu tố Văn Cao là trùm phản động, là đầu sỏ chống cộng < *2*> (xem chú thích cuối bài)
Với tất cả tội trạng tày trời do Xuân Diệu đấu tố Văn Cao công khai trên báo chí, tội của Văn Cao có khi còn to hơn tội của bà nhà văn Thụy An và ông Nguyễn Hữu Đang (cùng bị án 15 năm tù giam, 05 năm quản thúc vì hai người này bị cho là đầu sỏ gây ra vụ án chống đảng “Nhân văn – giai phẩm”). Sở dĩ Văn Cao thoát tù mọt gông vì ông chính là tác giả Quốc ca.
Ngay sau vụ “Nhân Văn”, nhà nước cộng sản tính lấy một bài hát “Cách mạng tiến quân” của Đỗ Nhuận làm bài quốc ca, thay bài “Tiến quân ca” của Văn Cao nhưng việc không thành. Mấy năm sau, năm 1981 nhà nước mở cuộc thi quốc ca trong suốt hai năm, quyết thay bài hát của tên phản động đang bất đắc dĩ dùng làm quốc ca; nhưng mấy trăm bài dự thi thay đổi quốc ca, không bài nào được chọn (vì quá tẻ nhạt) để thay thế bài ca lịch sử của Văn Cao.
Nếu không có bài quốc ca che chắn, có lẽ Văn Cao có thể đã chết trong tù Cộng sản? Một Văn Cao mềm mỏng, nồng nàn, say đắm, lãng mạn tận cùng (với các ca khúc bất diệt: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân”, “Trương Chi”, “Thiên Thai”…) trong một Văn Cao tỉnh bơ, quyết liệt, lạnh băng, thần kinh thép, thậm chí dữ dằn, sắt máu: “thề ăn gan uống máu quân thù”… “đường ta đi xây xác quân thù”… đến cùng tận khi một mình một xe đạp, đến tiệm hút thuốc phiện ở Hải Phòng, dương khẩu súng lục số 7165 của tổ chức (do Nguyễn Đình Thi trao) nhắm thẳng vào đầu Đỗ Đức Phin (bị Việt Minh cho là tay sai của Nhật) tuyên án từng lời đanh thép: tao bắn mày vì mày là Việt gian tay sai giặc Nhật! Đoạn, Văn Cao bóp cò súng cái đoàng, đầu Đỗ Đức Phin nức toác, tóe máu; rồi ông thủng thẳng nhét súng vào thắt lưng, đủng đỉnh đạp xe đi như đang dạo mát…
Sau này, cả cuộc đời còn lại, Văn Cao vô cùng ân hận vì đã bắn chết một con người là Đỗ Đức Phin. Đến nỗi, sự sám hối quằn quại khôn xiết này đã khiến ông không còn dám gõ lên piano những giai điệu lãng mạn tuyệt đẹp thuở ban đầu kiểu “Suối mơ”, “Bến xuân”… nữa; vì ông có cảm giác tay mình còn nhuốm máu đồng loại. Thế mà, có những kẻ vô lương tâm, can dự vào việc giết chết hàng chục triệu đồng bào vô tội của mình mà vẫn vênh mặt tự hào, chẳng một chút ăn năn sám hối!
Nghe nói Văn Cao còn bắn sẩy (bắn hụt) hai mật thám Nhật tại Hà Nội là Cung Đình Vạn và Võ Văn Cẩm (không biết có phải vì ông căm thù quân Nhật từng giết bố vợ mình là cụ Nghiêm Xuân Huyến – một chủ báo, chủ xuất bản lớn Hà Nội từng bị Nhật thủ tiêu trong tù?). Một con người như thế không dễ gì thỏa hiệp, đầu hàng, thà chết cho điều mình tin yêu hơn là phải sống như một chiếc bóng trong suốt hơn ba mươi năm bị giam lỏng trong án tù thả rông: “Nhân văn – Giai phẩm”…

Có lần, Văn Cao kể cho người viết bài này (trong một bàn rượu đơn sơ “cuốc lủi”, lạc rang, đậu phụ mắm tôm, với bạn tâm giao: nhà văn Mạc Phi, nhà văn Sơn Tùng…) rằng: “Sau vụ Nhân Văn, anh em “chống đảng” chúng tôi, ngoài mấy người bị án tù 15 năm, tất cả đều bị đi cải tạo lao động trên Tây Bắc. Trong chặng đường đi đày trên tàu hỏa, dù tôi đang đau dạ dày nặng sắp chết vẫn bị điệu đi, mấy lần tôi đã toan nhảy xuống đường tự tử khi tàu chạy, nhưng hình bóng đàn con lóe lên trong đầu như ánh chớp, hình bóng bà Băng (bà Nghiêm Thúy Băng – phu nhân nhạc sĩ) còng lưng nuôi đàn con bơ vơ mất bố, tôi liền bỏ ý định tự sát để tiếp tục sống hèn mà trở về nuôi con…”
Có lẽ men “cuốc lủi” làm Văn Cao cảm động, tay ông run run, kể tiếp: “Thảm nhất là khi ở nơi cải tạo lao động, đến bữa ăn, cứ thấy mình ngồi bàn nào là anh em (cùng bị đi đày lao động) lại tìm sang bàn khác ngồi, không ai chịu ngồi cùng bàn ăn với kẻ đầu sỏ Nhân Văn, đến nỗi chị nuôi trại đi đày phải xẻ một suất cơm ôi cá thối cho tôi ngồi một mình một bóng mà ăn cho khỏi chết đói chứ nào có ngon lành gì…”
Ngày 30 tháng tư 1975, ngày kết thúc 30 năm chiến tranh, theo mấy người con và mấy người bạn thân của nhạc sĩ kể lại, Văn Cao im lặng không nói gì, không reo mừng hò hét vỗ tay vỗ chân rầm rập trong hàng nghìn ca khúc khẩu hiệu điếc tai như phần lớn đồng nghiệp đã hét. Có lẽ, ông nghĩ rằng, nhờ chiến thắng này mà có thể thân phận “tù tại ngoại” của ông cũng sẽ được giải phóng, thoát án giam lỏng nhân văn chăng?

Dồn nén khát vọng tự do mấy chục năm, dồn nén khát vọng hòa bình mấy chục năm, dồn nén khát vọng mùa xuân mấy chục năm, dồn nén khát vọng thoát khỏi “nhà giam tư nhân” mấy chục năm, dồn nén khổ đau buồn hận mấy chục năm, dồn nén oan ức bị chà đạp mấy chục năm, chợt một sáng cuối đông, đầu xuân năm 1976, vỡ òa cảm xúc, vỡ òa nước mắt nhỏ giọt yêu thương, nhỏ giọt mật đắng nghẹn ngào lên từng phím đàn thành giai điệu Văn Cao “Mùa xuân đầu tiên” chăng?


Thành ra, “Mùa xuân đầu tiên” chính là lời reo vui của đắng cay, niềm rưng rưng kiếp nạn giải thoát, nỗi hoan ca ngục tù gặp nắng gió mênh mông…?
Xin xem thêm tài liệu tổng kết vụ án “Nhân Văn – Giai Phẩm” (NVGP) của đại tá công an A 25 Thái Kế Toại đã in công khai trên rất nhiều trang mạng, để thấy thân phận của Văn Cao suốt ba mươi năm dưới chế độ “ưu việt gấp triệu lần tư bản” thê thảm là dường nào < *3 *> (xem chú thích cuối bài)
Qua lời tự thú của vị đại tá công an phụ trách theo dõi văn hóa văn nghệ trên, ta thấy số phận kẻ trọng tội NVGP bị lưu đày trong chính căn phòng mình, trên chính quê hương mình của Văn Cao và các bạn hữu NVGP của ông hầu như đã bị tước quyền công dân, tước hết quyền sáng tạo nghệ thuật, bị “giam tại nhà”, bị đấu tố, bị làm nhục, bị cải tạo lao động hà khắc; không khác mấy so với những kẻ thua trận Việt Nam cộng hòa bị tù tội trong danh phận học tập cải tạo sau năm 1975…
Không thấu hiểu hoàn cảnh sống bị chà đạp, bị lăng nhục, vùi dập, bị đói khổ, bị mất hết tự do nơi Văn Cao suốt ba mươi năm, chúng ta sẽ không cảm nhận được hết nỗi vui của người tù vừa tìm thấy một khe hở gió nắng, được vụt lóe với khói trên sông, với tiếng gà trưa hiu quạnh trong nỗi đau nghẹn ngào “Mùa xuân đầu tiên” này…
Chính nỗi đau buồn kia đã đẩy Văn Cao tới chân tường của cô đơn, lưu đày ông vào ly rượu và khói thuốc. Chứng nghiện rượu đã giúp Văn Cao phần nào quên đi thực tại thê thảm, giúp ông có nghị lực để sống qua thời thương khó. Nhiều đêm, không ngủ được, thức khuya để tìm ảo giác trong men rượu, thấy bóng mình in trên tường, Văn Cao chợt rùng mình hoảng sợ, ngỡ là công an mật nửa đêm xuyên tường đến hỏi cung ông, suýt nữa làm ông co cẳng ù té chạy…
Suốt một đời Văn Cao không chạy thoát khỏi bóng mình, không thoát khỏi kiếp lưu đầy thiên bẩm của một nghệ sĩ lớn mà thời đại dường như không đủ chỗ cho mình tỏa bóng. Đành thu bóng lại như con mèo nghệ thuật nằm cuộn tròn trong đống tro tàn cải tạo tại gia mà ăn năn hối cải về tội chống đảng của mình.
Đâu rồi chàng trai Văn Cao yêu đời, yêu người, tự do tự tại, thanh bình, phiêu lãng miền thiên giới, thần tiên sống lẫn con người, lãng mạn tới tận cùng chân trời góc bể trong những ca khúc tiền chiến tuyệt tác? Xin cùng nghe lại bản nhạc đầu tay tuyệt diệu của trang thiếu niên 16 tuổi, và xem lại lời của ca từ “Buồn tàn thu”:

Ai lướt đi ngoài sương gió,
Không dừng chân đến em bẽ bàng,
Ôi vừa thoáng nghe em mơ ngay bước chân chàng,
Từ từ xa đường vắng.
Đêm mùa thu chết, nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng.
Em ngồi đan áo lòng buồn vương vấn, em thương nhớ chàng.
Người ơi còn biết em nhớ mong,
Tình xưa còn đó xa xôi lòng.
Nhờ bóng chim uyên, nhờ gió đưa duyên
Chim với gió bay về, chàng quên hết lời thề.
Áo đan hết rồi, cố quên dáng người,
Chàng ngày nào tìm đến?
Còn nhớ đêm xưa kề má say sưa
Nhưng năm tháng qua dần, mùa thu chết bao lần.
Thôi tình em đấy, như mùa thu chết rơi theo lá vàng.

“Buồn tàn thu” một nỗi buồn đẹp, trong veo dù tình em tưởng “chết rơi theo lá vàng”. Cái buồn của tình yêu “em thương nhớ chàng” Văn Cao kết hợp hồn nhạc ngũ cung với chất khải huyền Thánh ca Thiên Chúa giáo rất cổ thi; như người chinh phụ nhớ chinh phu “Chinh phụ ngâm” Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm, như thần thiếp nhớ quân vương “Cung oán ngâm khúc” Nguyễn Gia Thiều, Kiều nhớ Thúc Sinh trong mùa thu chết “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” Nguyễn Du thuở lục bát “người lên ngựa, kẻ chia bào” của “bụi hồng dặm cuốn chinh an”…
Cái buồn của con người gặp cái buồn của trời đất, rất “mang mang thiên cổ sầu” Văn Cao. Chàng thiếu niên 16 tuổi đã ký thác đời mình trong vàng thu lá chết, lấy lá vàng mùa thu làm chiếc diều của của nghệ thuật muôn đời siêu thoát. Chàng tự lưu đày mình vào mùa thu một cách tự nguyện. Chàng chết đuối theo vàng thu chìm nghỉm để bất tử trong giai điệu du dương, sang trọng, như danh họa Nga gốc Do Thái Levitan phó linh hồn cho mùa thu Nga vĩnh cửu sơn dầu…
Ngay từ 16 tuổi, bằng sự lãng mạn tận cùng qua “Buồn tàn thu”, Văn Cao đã sung sướng được đắm chìm vào vương quốc Cái – Đẹp. Chàng dùng nỗi buồn làm rượu, làm lương thực hằng sống nuôi dưỡng những giai điệu du dương lãng mạn đẹp nhất của nền tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu trong năm kiệt tác vô song: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân” (lời Phạm Duy) “Trương Chi” và “Thiên Thai”…
Dường như năm bản nhạc lãng mạn trên là năm bản thánh ca của tâm hồn con người, đưa ta thoát mọi phàm tục để được thánh hóa, được thăng hoa tới muôn vàn mê đắm, thoát khỏi hận thù mà bất tử với thương yêu? Bản tình ca của nỗi buồn, của Cái – Đẹp ban sơ được hát lên cùng thiên giới thiêng liêng niềm hoài niệm trần thế; nơi suối nguồn róc rách mê ly chảy ra từ năm dòng kẻ nhạc Văn Cao, theo giai điệu thiên thần réo rắt thanh tao kia mà rót vào hồn ta hơi thở đất trời, rót vào tai ta chất men say của niềm ham sống, của tin yêu và hoài vọng. Âm nhạc Văn Cao nâng cánh con người bay lên cõi đẹp, cõi mê, cõi thần tiên, cõi hằng sống là vì thế chăng?
Chừng như Văn Cao đã ngầm ký gửi thân phận mình vào hai ca khúc lãng mạn một cách siêu nhiên có phần kỳ bí, huyền nhiệm: “Thiên thai” và “Trương Chi”, vừa mang phong cách cao sang, nền nã, cổ điển của nghệ thuật Apollon – thần ánh sáng và thi ca, vừa mang phong cách ma mị, xuất thần, cuồng si của nghệ thuật Dionysos – thần rượu nho (theo quan niệm về bi kịch Hy Lạp của Nietzsche)?
Văn Cao, ngay từ độ đôi mươi, đã tự đày ải mình lên miền thiên giới trong đại kiệt tác “Thiên Thai”. Cuộc nhập “Thiên Thai” ấy không chỉ có hai chàng Lưu Nguyễn mà thực ra đã có ba chàng: người tham gia khí muộn vụ thiên hành lên cõi tiên ấy chính là Văn Cao:

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Kià đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên
theo gió tiếng đàn xao xuyến
Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền
Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền
Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Quê hương dần xa lấp núi ngàn
Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền
Ai hát trên bờ Đào Nguyên
Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần
Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn
Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên
đây đó nỗi lòng mong nhớ
Này khúc bồng lai
là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên
Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần
Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
Nhớ quê chiều nào xa khơi Chắc không đường về
Tiên nữ ơi!
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao?
Những khi chiều tà trăng lên
Tiếng ca còn rền trên cõi tiên

Văn Cao và hai chàng Lưu Nguyễn đã nhập “Thiên Thai” nghệ thuật. Nơi đó, Cái Đẹp chính là tiên nữ, khởi nguồn mọi xúc cảm hồn người. Nghệ thuật, nói cho cùng KHÔNG VỊ BẤT CỨ ĐIỀU GÌ, vì nó là cái chân thiện mỹ đã được thánh hóa, được đóng dấu thiên giới cao sang. Tột cùng của nghệ thuật là sự thoát tục, sự thăng hoa con người lên những thế giới khác, tâm hồn khác, rung động khác, mê ly khác, ảo diệu khác… do con đò của tưởng tượng chở ta sang bờ bên kia của sự thật, bờ bên kia của thế giới.
Những giai điệu thần tiên mê ly hết mực Văn Cao đã đưa hồn ta du nhập cùng ba chàng lãng tử Lưu – Nguyễn – Văn vào cõi trời. Thiên Thai ấy, tiên nữ ấy, nghê thường ấy hóa ra không ở đâu xa, lại ở chính nơi hồn ta khi được âm nhạc thiên tài Văn Cao đánh thức…
Văn Cao hóa thân vào bi kịch nghệ thuật Trương Chi, hay chính hồn chàng Trương Chi đã ám lấy cuộc đời Văn Cao trong một ca khúc hay đến rợn người, hay đến ngờ có ma trong giai điệu du dương chìm lắng, thê lương, rờn rợn liêu trai, khuya khoắt ngồi nghe một mình có thể nổi da gà:

Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ
Vương vất heo may hoa yến mong chờ
Ôi, tiếng cầm ca thu tới bao giờ.
Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang,
Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan
Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng
Đây đó từng song the hé đợi đàn.
Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân
Hò khoan mơ bóng con đò trôi
Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời
Anh Trương Chi
Tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung,
Anh thương nhớ.
Oán trách cuộc từ ly não nùng.
Đò trăng cắm giữa sông vắng.
Gió đưa câu ca về đâu?
Nhìn xuống đáy nước sông sâu.
Thuyền anh đã chìm đâu!
Từng khúc nhạc xa vời
Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi.
Sương thu vừa buông xuống
Bóng cây ven bờ xa mờ xóa dòng sông
Ai qua bến giang đầu tha thiết,
Nghe sông than mối tình Trương Chi
Dâng úa trăng khi về khuya,
Bao tiếng ca ru mùa thu.
Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn
Còn nghe như ai nức nở và than,
Trầm vút tiếng gió mưa
Cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?
Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn
Về phương xa ai nức nở và than,
Cùng với tiếng gió vương,
Nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa.
Đò ơi! Đêm nay dòng sông Thương dâng cao
Mà ai hát dưới trăng ngà
Ngồi đây ta gõ ván thuyền,
Ta ca trái đất còn riêng ta.
Đàn đêm thâu
Trách ai khinh nghèo quên nhau,
Đôi lứa bên giang đầu.
Người ra đi với cuộc phân ly,
Đâu bóng thuyền Trương Chi?

Bi kịch Trương Chi chính là bi kịch của nghệ thuật, bi kịch cuộc đời, hơn nữa là bi kịch của thiên tài và thời đại, bi kịch của Văn Cao và chế độ… Hình như Văn Cao đã đổi vai cho chàng ca sĩ thiên tài Trương Chi trong câu chuyện cổ diễm tình, được kể lại bằng hồn Văn Cao với giai điệu bi ca, khốc ca, hú ca, Mỵ Nương ca?
Hồn Trương Chi u uẩn, u u trong gió sương vương vấn trên sông, đêm đêm đã lấy đi hết nước mắt nàng Mỵ nương ân hận nghìn đời. Nay hồn ấy, tình đơn phương yêu đến chết ấy lại nhập vào hồn Văn Cao với giai điệu sầu thương, nức nở, lấy đi bao giọt khóc của người nghe nhạc hôm nay.
Thương thay chàng Trương Chi Văn Cao đã dâng hiến cả tâm hồn và thân xác mình cho tình yêu con người, cho tình yêu thời đại, yêu đến nỗi cuồng điên kiểu Xuân Diệu: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” nhưng đã bị thời đại đáp lại bằng “cú đớp chính trị” Nhân Văn Giai Phẩm tàn mạt cả một đời.
Nàng Mỵ Nương cuộc đời, nàng Mỵ Nương thời đại không chấp nhận tình yêu đơn phương tận hiến ấy, yêu và ca hát như con ve tới chết cho nàng, vì nàng, một tình yêu phi điều kiện, phi chính trị. Cũng như Trương Chi, Văn Cao đã bị nàng Mỵ Nương – Thời đại phụ tình, hớp hết hồn chàng, rút hết gan ruột chàng trong các ca khúc kháng chiến bất hủ: “Trường ca Sông Lô”, trong “Tiến quân ca”, trong “Làng tôi”, trong “Tiến vế Hà Nội”, trong “Ngày mùa”… ăn ốc đổ vỏ, rồi nhốt chàng vào mật thất cô đơn như một huyệt mộ của tự do trá hình có tên là căn gác chật hẹp 108 Yết Kiêu, Hà Nội, thuê 15 đồng một tháng (ở tù tại gia mà phải thuê a?)…


Trương Chi đã yêu, đã chết cho mối tình lý tưởng đơn phương, thân xác tan vào sông nước và hồn hóa thành đá quý làm chén ngọc cho Mỵ Nương gieo nước mắt thương tình thành sông. Văn Cao không ném thân xác mình vào cát bụi để được chết vì yêu như Trương Chi; nhưng linh hồn ông, âm nhạc ông đã đang và mãi mãi sẽ được người đời yêu thương đón nhận. Hồn Văn Cao còn hát mãi tiếng tuyệt vời Trương Chi trên dòng sông âm nhạc, nơi sẽ có hàng nghìn Mỵ Nương xinh đẹp mong ước chàng sống lại để hậu thế được yêu chàng như lời thơ R. Tagore vẽ hộ tình yêu mai sau dành cho chàng Trương Chi – Văn Cao:
“Nàng ơi / tất nhiên là nàng sẽ ra đời / trong một thế kỷ nào đó / xin nàng tha thứ cho / nếu quả vì tôi kiêu hãnh / vẽ dáng nàng đang đọc thơ tôi / khi trăng rọi im lìm qua khe chữ / tôi biết đêm nay / dưới trăng mờ / nàng thắp đèn chờ / dù nàng biết chẳng bao giờ nhà thơ (nhạc sĩ – chua thêm TMH) đến nữa …”
(bản dịch từ tiếng Anh của Cao Huy Đỉnh)

Tiền bối Văn Cao ơi!

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi…
Sài Gòn ngày 23-01-2013

Trần Mạnh Hảo

_________________________________
Phần chú thích:
Chú thích <*1*>:

“Tố Hữu ấy à? Không, không phải đâu. Cần phải công bằng. Tố Hữu có không ưa mình, có làm khổ mình thật, do lòng đố kỵ mà ra. Mình cũng ghét cái thằng bắng nhắng ấy lắm. Nhưng có thế nào nói thế ấy. Tố Hữu chỉ là kẻ thừa hành thôi. Nói gì thì nói, trong lòng Tố Hữu vẫn còn một chút gì của nhà thơ chứ. Bề ngoài thì thế đấy – Tố Hữu lãnh đạo cuộc đánh từ đầu chí cuối. Người ta tưởng vụ Nhân văn – Giai phẩm nổ ra là bởi báo Nhân văn đăng mấy bài phê bình thơ Tố Hữu, Tố Hữu tức, Tố Hữu đánh. Nhầm hết. Longue Marche (tiếng Pháp, có nghĩa là cuộc quân hành dài, ý nói Trường Chinh) mới là kẻ sáng tác ra vụ Nhân văn – Giai phẩm. Để chạy tội Cải cách ruộng đất. Để tạo ra cái hố rác mà trút mọi tội lỗi của Lúy[2] vào đấy. Chính Longue Marche chứ không ai khác. Đừng tước bản quyền của Lúy, tội nghiệp! Longue Marche còn cho mời mình và Nguyễn Tuân đến gặp. Lúy nói cả tiếng đồng hồ về đảng tính, về trách nhiệm đảng viên. Chiêu hồi mà. Nguyễn Tuân nghe, mặt hất lên, ngáp không cần che miệng. Nguyễn Tuân vẫn thế – bất cần đời. Đôi lúc cũng có hèn một tí, hèn có mức độ thôi, trong đại đa số trường hợp là kẻ bất chấp. Mình nói với Longue Marche: “Nếu trong vườn hồng có sâu thì ta phải chịu khó mà bắt bằng tay, từng con một. Đổ ụp cả đống thuốc trừ sâu vào đấy thì chết cả vườn hồng. Rồi anh sẽ thấy: qua đợt đánh phá này không biết bao giờ nền văn nghệ Việt Nam mới ngóc đầu dậy được!” Lúy nghe, mặt câng câng. Cái cách của Trường Chinh là thế. Lúy gọi mình đến còn có ý này nữa: Lúy muốn mình phải hiểu – tôi đã chịu khó nghe các anh rồi đấy nhá, tôi dân chủ lắm rồi đấy nhá! Chứ còn cái nền văn nghệ của các anh, nó đáng giá mấy xu?.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_trào_Nhân_Văn_-_Giai_Phẩm
Chú thích <*2*>:

“Những tư tưởng Nhân văn-Giai phẩm luồn lách như chạch; không phải lúc nào nó cũng lộ liễu như trộn trấu, cát vào gạo cơm ta ăn, khiến ta biết ngay; mà có khi nó giấu tay rỏ thuốc độc vào những chai thuốc dán nhãn hiệu là “bổ”. Văn Cao vào hạng có bàn tay bọc nhung như thế. Sự giả dối đã thành bản chất của Văn Cao, nên những cái lạc hậu, thoái hoá của Văn Cao cứ nghiễm nhiên mặc áo chân lý và tiến bộ. (…)


Vào đời giữa thời phát-xít Nhật đổ bộ vào Đông Dương, lúc lớn lên nhạy cảm nhất lại là lúc chủ nghĩa đế quốc Pháp Nhật toát ra cái chất cuối mùa đồi trụy nhất, phản động nhất, Văn Cao đã ngộ độc rất nặng. (…)
Trong bài hát Trương Chi, Văn Cao gán cho người đánh cá cái khinh bạc tột độ của mình, không coi nhân quần ra cái gì hết, chỉ có một mình mình trên trái đất; hơi lạnh của chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối toát ra như một âm khí nặng nề:

Ngồi đây ta gõ mạn thuyền
Ta ca trái đất còn riêng ta! (…)

Những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, những ý nghĩ phiêu lưu, tìm thi vị xa vời, mới lạ trong cách mạng, là một chặng đường tất yếu của tư tưởng nhiều người; mơ ước “Hải quân Việt Nam”, “Không quân Việt Nam” lúc đó cũng là một trạng thái của lòng yêu nước.

Nhưng ta phải giật mình khi nhớ lại những lời hát:

Ta là đàn chim bay trên mây xanh
Mắt nhìn trong khói những kinh thành tan…
…Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng 

Ta không trách trình độ chính trị của ta và của tác giả khi đó còn thấp. Chúng ta giật mình vì cái lối bay để mà bay, tự say lấy mình đó là tiền thân của cái lối “Hãy đi mãi” của Trần Dần; chúng ta giật mình hơn nữa là cái máu anh hùng chủ nghĩa làm cho Văn Cao sảng khoái nhìn thấy “những kinh thành tan” dưới bom đạn mà không chút xót thương, và “chiến công ngang trời” kia lại là của “không quân Việt Nam”, mà không nói là chiến tranh tự vệ!
Mấy bài thơ năm 1946, 1948 của Văn Cao, có dụng ý tốt, nhưng cũng bộc lộ cái tính chất nghệ thuật của Văn Cao, thích khúc mắc, khó hiểu, thích loè lên lấp lánh, pha với sự lập dị, chộ người, toát ra một màu vị tan rã, như bài “Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc”, hay như bài “Ngoại ô mùa đông 46” (Văn nghệ số 2, tháng 4-5/1948):

Ta đi trong nhà đổ
Nghe thời gian đã nhạt khúc ân tình
Tuy phòng the chiếc áo trẻ sơ sinh
Còn xiêm hài dành hương phấn cũ…

Chữ Phạn, La-tinh nhường máu tô diệt Pháp
Gió lạnh khi qua viện tàng thư
Cháy cong queo, bìa giữ chút di từ
Kierkegaard, Heiddeger và Nietzsche… (…)

Giả dối như một con mèo, kín nhẹn như một bàn tay âm mưu trong truyện trinh thám, bài thơ Anh có nghe thấy không? lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì. Văn Cao gọi ai là “chúng nó”? Đối lập với ai là “chúng ta”?

Bao giờ nghe được bản tình ca
Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật
Bao giờ
Bao giờ chúng nó đi tất cả (…)

Trên đất nước ta, “chúng nó” là Mỹ-Diệm ở miền Nam, là tay chân Mỹ-Diệm ở miền Bắc, là bọn phá hoại Nhân văn-Giai phẩm; chúng nó là thế đấy (…)
Những con người của chúng ta, từ Cách mạng tháng Tám đến nay, xuất hiện, trưởng thành dần dần và mãnh liệt, để đi tới “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, dù chúng ta có còn khuyết điểm, nhược điểm gì, cả Trái đất cũng biết chúng ta vĩ đại!” (Xuân Diệu, Dao có mài mới sắc Nxb Văn học, Hà Nội 1963, tr. 101-114. Bản điện tử do Lại Nguyên Ân cung cấp, tài liệu Talawas

KIỂM SOÁT ĐỐI TƯỢNG BẰNG “MA TÚY” .Đỗ Ngà

Tháng Năm 30, 2019

Tại các nước dân chủ, đảng phái chính trị đứng ngoài bộ máy nhà nước. Đảng phái chính trị nó thực chất như là một tổ chức tuyển chọn và đào tạo ra nhân sự cung cấp ứng cứ viên cho vị trí lãnh đạo đất nước để dân chọn lựa. Ở đó, đảng phái chính trị chỉ có ảnh hưởng lên nhà nước chứ không kiểm soát nhà nước. Quân đội và cảnh sát, họ chỉ nghe tư lệnh của họ trong nhà nước chứ đảng phái chính trị không có ý nghĩa. Ví dụ, quân đội Hoa Kỳ chấp hành mệnh lệnh của ông Donald Trump vì ông Trump là tổng thống của họ chứ đảng Cộng Hòa không là gì với quân đội.

Mặt khác, tất cả các sỹ quan trong quân đội Hoa Kỳ, họ không đảng phái. Nghĩa là, quân đội là của đất nước Hoa Kỳ chứ không phải của đảng cộng hòa hay đảng dân chủ gì cả. Nếu sỹ quan trong một binh chủng nào đó, muốn gia nhập một đảng phái nào đó để tranh cử chức vụ trong hành pháp hoặc lập pháp, thì anh ta phải ra khỏi quân ngũ. Điều này người ta gọi là phi chính trị quân đội và cảnh sát.

Đảng phái chính trị và quốc gia là 2 thực thể khác nhau. Có những đảng phái chính trị vì nó, có những đảng phái chính trị vì quyền lợi quốc gia, và có những đảng phái chính trị phản bội quyền lợi quốc gia vv… nói chung rất đa dạng. Và thậm chí, đảng phái chính trị có thể thay đổi tiêu chí hành động theo thời gian, nay nó yêu nước nhưng ngày mai nó phản bội đất nước. Nói chung, chỉ có quyền lợi quốc gia là cố định, còn quyền đảng phái nó có thể thay đổi. Ví dụ, ngày xưa Pháp trăm năm áp bức nhân dân, nên ĐCS dựng lên ngọn cờ dộc lập để gom sức mạnh nhân dân. Lúc đó quyền lợi ĐCS gắn với quyền lợi đất nước. Nay ĐCS nắm quyền cai trị, quyền lợi của ĐCS mâu thuận với quyền lợi nhân dân nên họ xem Trung Cộng là chỗ dựa. Họ đã phản bội đất nước quyết ngã vào tay ngoại bang có thể tìm cứu cánh cho họ khi dân nổi dậy. Như vậy, hôm nay ĐCS phản đang bội quyền lợi đất nước.

Quân đội Việt Nam được ĐCS đặt cho cái tên là “Quân Đội Nhân Dân Việt Nam”, thế nhưng nhìn vào mô hình tổ chức thì, đảng phái nó xâm nhập sâu vào từng tớ bào của quân đội. Từ anh thiếu úy quèn thì cũng là đảng viên ĐCS rồi. Trong quân đội CSVN có cái gọi là Tổng cục Chính trị, tổng cục này kiểm soát tư tưởng sỹ quan quân đội từ cấp cao đến cấp cơ sở. Tư tưởng chính trị, nó như là một thứ thuốc phiện, nó luôn được Tổng cục Chính trị tiêm vào, tiêm liên tục cho tất cả sĩ quan các cấp quân đội. Và tất nhiên Quân đội Nhân dân Việt Nam trở thành con nghiện thuốc chịu sự kiểm soát kẻ cung cấp thuốc – ĐCS.

Trong xóm tôi, có một con nghiện rất nặng, nó có một bà dì ruột bán thuốc lá đầu hẻm. Bà ta hằng ngày cung cấp ma túy cho nó thỏa cơ nghiện, bù lại bà ta sai nó đi ăn cắp xe máy về cho bà ấy tiêu thụ. Một hôm bà dì ấy bị ốm nặng phải vào bệnh viện, hết nguồn cấp ma túy, Nghiện vật vờ mò vào bệnh viện năn nỉ dì nó cấp thuốc cho. Dì nó thều thào bảo “đến nhà ông A cuối hẻm, mầy bảo ổng cấp ma túy cho mầy, rồi ổng sẽ dùng mầy cho công việc của ổng”. Trong cơn đói thuốc, nó liền về gấp gặp ông A. Vì sẵn có hiềm khích với bố nó, nên ông A bảo nó về giết bố thì ông ta cấp ma túy cho. Trong cơn đói thuốc vật vã, nó liền về nhà lấy dao nhọn và ra tay sát hại người bố – người mà đã suốt đời làm lụng vất vả lo cho nó và nuôi lớn nó. Khi đã thành con nghiện, con người sẽ rất dễ bị sai khiến và sẵn sàng làm những điều tàn ác nhất.

Tương như vậy, trong từng thớ thịt của quân đội Nhân Dân Việt Nam đang bị nhiễm chính trị CS đến tận tớ bào. Đã 74 năm, QĐNDVN là con nghiện thứ ma túy chính trị CS. Chính quân đội này, đã nghe lời sai khiến của đảng gây ra cuộc nội chiến tương tàn với chính đồng bào mình trong suốt 21 năm ròng rã. Đó chẳng phải là hành động đứa con nghiện đã cầm dao đâm chí mạng vào lòng người mẹ Việt Nam đấy còn gì? Và hôm nay vẫn thế, đảng đang xem nhân dân là đối tượng đáng trừng trị, nên khi nhân dân đòi quyền lợi cho mình, đảng chỉ cần phất tay là quân đội sẽ quay nòng súng nghiền nát nhân dân ruột thịt của mình ngay.

Chính trị hóa quân đội nó nguy hiểm như thế đó. Khi QĐNDVN bị chính trị hóa, nếu Trung Quốc kiểm soát được ĐCSVN thì Trung Quốc hoàn toàn dùng ngay quân đội nhân dân Việt Nam thịt nhân dân Việt Nam một cách dễ dàng. Nghĩ mà rợn người nhỉ?

Hôm ngày 27/05/2019 bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa sang thăm Việt Nam. Chuyện hợp tác quốc phòng là chuyện bình thường trên thế giới. Bộ trưởng quốc phòng Mỹ cũng đi thăm rất nhiều nước đồng minh Mỹ trên khắp thê giới đấy thôi. Đấy là sự hợp tác đơn thuần về mặt quân sự, không gì phải lo ngại. Nhưng Ngụy Trung Hòa đến Việt Nam bề ngoài là vậy, nhưng bên trong không phải vậy. Sự khác biệt ở đây như thế nào, tôi xin trích lời của báo nhà nước, tờ Vneconomy.vn để rồi sau đó bàn tiếp về mối nguy. Tờ báo viết rằng “Trong đó, hai bên thống nhất thời gian tới tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc phòng trên các lĩnh vực công tác đảng, công tác chính trị”.

Vâng! Trung Quốc nhắm tới hợp tác mặt đảng trong quốc phòng. Trung quốc muốn kiểm soát tư tưởng chính trị trong quân đội Việt Nam. Tức nói thẳng ra, Trung Quốc muốn thay ĐCSVN cung cấp “ma túy chính trị” cho QĐNDVN. Đấy mới là mối nguy mất nước.

Quan sát thực tế, sự chuyển giao vai trò kiểm soát tư tưởng chính trị trong quân đội từ tay ĐCSVN sang tay ĐCS Tàu đang diễn ra một cách mãnh liệt. Cơ sở nào tôi nói ra điều này? Cơ sở là hiện nay ĐCSVN hàng năm cử rất nhiều sỹ quân của Quân đội Nhân Dân Việt Nam sang Trung Cộng học tập. Mục đích là để lớp sỹ quan này trở về sẽ nắm các vị trí chủ chốt trong quân đội. Đây là hình thức mà chức năng giữ quyền cung cấp “ma túy chính trị” cho con nghiện quân đội Nhân Dân Việt Nam đang được chuyển từ tay ĐCSVN sang tay ĐCS Tàu. Sau một thời gian, khi số sỹ quan do Tàu đào tạo thay thế hoàn toàn những lứa sỹ quan cũ, thì khi đó Trung Quốc điều khiển cả quân đội Việt Nam.

Thêm vào đó, Trung Quốc kiểm soát tứ trụ triều đình, mà đặt biệt là ghế Tổng Bí Thư – người này nắm chức Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương, thì khi đó Trung Nam Hải sẽ điều khiển quân đội bằng 2 tay. Tay phải nó xua quân đội Trung quốc xâm lấn lãnh thổ Việt Nam, đồng thời tay trái nó lệnh cho quân đội nhân dân Việt Nam án binh bất động để quân đội nhân dân Trung Hoa làm việc một cách thuận lợi. Hoàn cảnh này không phải sẽ diễn ra mà đã và đang diễn ra. Mọi người hãy nhìn cho kỹ, Trung Quốc tự tung tự tác trên biển đông, và quân đội Việt Nam luôn án binh bất động nhường cho quân đội Trung Quốc thịt ngư dân Việt Nam thì sẽ thấy 2 cánh tay điều khiển của Trung Cộng rất rõ.

Nhìn lại quân đội nhân dân Việt Nam từ 1990 đến nay mà xem? Họ luôn án binh bất động, dù cho Trung Quốc có lộng hành cỡ nào. Đó là bước chuẩn bị rất kỹ và rất thâm hiểm của Trung Nam Hải để lấy Việt Nam. Nếu còn Cộng Sản cai trị là nguy cơ mất nước luôn treo trên đầu nhân dân Việt Nam như thế đấy.

– Đỗ Ngà –
http://www.donga.blog/…/kiem-soat-oi-tuong-bang-ma-tuy.html…

MỘT CÁCH ĐỐI PHÓ TIÊU CỰC ! .Kim Chi Ton

Tháng Năm 30, 2019

– Ô nhiễm , bụi bặm có sao
Khẩu trang đã sẵn mang vào là xong !
– Rau củ nhiễm độc (thì) tự trồng !
– Ngoài đường trộm cướp , nhưng không trộm mình ,


Yên thân thì cứ lặng thinh !
– Tai nạn đường xá thình lình chết ai
Cầu trời khấn phật lạy dài
Cho mình tránh khỏi được tai ương này !
– Nguy cơ mắc bệnh ngày nay
Hên xui may rủi vận may thôi mà !.. 
– Xã hội thối nát xấu xa
“Phản động” thì mới nói ra thẳng thừng !
– Bất công nghèo đói khốn cùng
Ai gây ra nó cũng đừng phán phê
Trong lòng chán nản ê chề
Cúi đầu im lặng , ai chê mặc lòng !

Tương lai nghĩ đến thì không
Đổi thay cuộc sống chẳng mong ước nhiều
Chỉ là “đối phó” bấy nhiêu
Để cho yên phận , có chiều gia tăng !…
Ai mà cũng muốn yên thân
Ẩn trong vỏ ốc , tranh phần bùn ao
Xã hôi sẽ tiến cách nào
Phận người nhẽ cứ lao đao suốt đời
Đỉnh cao dòi bọ chúng ngồi
Quyền uy ức hiếp …
ta người cần lao ! 😦

Nói ra mà thấy nhói đau
Rồng chưa hoá được vì đâu hỡi rồng ?!

CHẬM TIẾN ĐỘ .Nguyễn Việt Nam

Tháng Năm 30, 2019

Hôm qua Nam ngồi nói chuyện với tay bạn về cái dự án bẫy nợ đường sắt Cát Linh – Hà Đông. Chậm tiến độ mấy năm trời, vốn thì đội lên gấp đôi, chất lượng thì đểu mà giờ đưa vào sử dụng chắc không được vì nhìn nát bét như đống sắt vụn.

Bạn nó hỏi: Không biết nếu không chạy được thì nhà nước ăn nói với nhân dân thế nào?

Úi dào, bạn cứ lo xa. Cộng sản thì kiểu gì mà chúng nó chẳng lèo lái được. Mặt chúng nó dày hơn cả thớt rồi còn lo cái gì. Đến lão Trọng kia già khú đế, dân đuổi về như đuổi chó hoang ấy mà còn mặt dày nói rằng ” đa số nhân dân ủng hộ” nữa là.

Bạn nó bảo: Nhưng mà không biết cái đó chậm tiến độ đến bao giờ nhỉ?

À chậm thế ăn thua gì, đội vốn như vậy cũng chẳng ăn thua gì, thiệt hại kinh tế như vậy cũng chẳng ăn thua gì. Bạn nhìn cái công trình tên là Đảng mà bọn nó xây rồi chỉnh đốn gần thế kỷ nay đã ra cái hồn gì đâu. Khác gì cái hũ mắm tôm càng ủ càng thối đâu mà. Xây dựng cái đảng mà tốn bao nhiêu xương máu, tiền bạc, mồ hôi nước mắt, đất đai tổ tiên, tài nguyên khoáng sản, lấy hết cả phần con cháu để xây mà nó vẫn chưa ra cái cống rãnh gì. Bọn lãnh đạo trước nó hứa với dân là năm này sẽ vượt Nhật Bản, năm nọ mỗi gia đình có một bác sĩ riêng hay sắp đến XHCN rồi. Cuối cùng lão Trọng phán một câu hòa cả làng rằng: không biết hết thế kỷ này đã có XHCN ở Việt Nam hay chưa nữa. Thế là hòa cả làng. Chậm tiến độ cả 3/4 thế kỷ nữa cũng có ăn nhằm gì đâu huống hồ cái đường sắt bé tí tẹo, chậm có nửa thập kỷ, tốn có tỷ USD. Đấy, giờ ngày nào chúng nó chẳng cho truyền thông, báo chí oang oang là bọn tao đang xây dựng, chỉnh đốn cái đảng của tao cho vừa lòng dân và phù hợp với mục tiêu phát triển của đất nước.

Bạn nó nói: Ừ, bạn nói cũng đúng nhỉ.

Ừ, còn cái cao tốc Bắc- Nam và đường sắt cao tốc Bắc Nam mà cho bọn Tàu nó làm thì chắc hết thế kỷ này mới xong chứ đừng nói đến 2050 như dự kiến. Lúc ấy thì đúng là có XHCN như lão Trọng nói rồi đó bạn à.

TIẾNG VỌNG. Phan Ý Nhân

Tháng Năm 29, 2019

Bắc thuộc ngàn năm đã chẳng kiềng
Con Hồng cháu Lạc mãi hùng thiêng
Phù dân…đất Tổ bêu đầu giặc
Vị nghĩa…trời Nam bẻ xích xiềng


Thủa đó bao sài lang khuất phục
Bây giờ lũ ngoại quốc dè kiêng
Lời xưa nhắn nhủ triều đương đại
Giữ phận đừng quên quỷ láng giềng.

Phan Ý Nhân

*********

Góp Bút cùng PHAN Ý NHÂN
🌹❤️📚🎼✍️❤️🌹

………..N O N S Ô N G………!!
❤️🎼❤️

Tham tàn Xâm lược
Mộng không kiềng
Cháu Lạc Con Hồng
Dậy khí thiêng
Lời hịch ngàn năm 
Trừ giặc loạn
Tuyên ngôn vạn thuở
Phá gông xiềng 
Bài Phong sạch bóng
Dân khâm phục
Đả Thực tan hình
Quỷ phải kiêng
Tiếng gọi Non sông rền bốn biển
Chủ quyền cảnh giác
Bọn quanh giềng.!
🌹🌼❤️📚🎼❤️🌼🌹

Thanh Binh Do

*******

BÀI HỌC CÒN ĐÂY

Nhiều phen thất bại vẫn chưa kiềng
Hẳn biết lâu rồi đất Việt thiêng
Cậy lớn bày trò hay bắt nạt
Ỷ đông giở thói áp gông xiềng
Chi Lăng tướng Liễu* xưa đầu cụt
Hàm Tử ngài Hoan** mãi phải kiêng
Lịch sử bao đời sao chẳng thuộc
Mau quên tình nghĩa láng cùng giềng /

* Liễu Thăng
** Thoát Hoan

Đăng Quốc Trình

*********

DẠI, KHÔN

Khí phách nước Nam nhớ phải kiềng, 
Bạch Đằng, Hàm Tử… đất này thiêng!
Mới đây phạm lỗi nhưng không xích,
Nếu dại lần sau sẽ phải xiềng.
Chớ cậy binh hùng mà thất đức,
Phải tìm chân lý, súng, gươm kiêng!
Hay gì vũ khí uy bè bạn,
Mà thế núi non lại xóm giềng!

Nguyễn Ninh Khang

********

HÀO KHÍ VIỆT NAM.

Lòng dân – thế trận vững như kiềng
Đại hải, non ngàn tụ khí thiêng.
Kim cổ xâm lăng không thể xích!
Đông tây bạo ngược chẳng hòng xiềng!
Bao phen lũ giặc từng run nể.
Vạn đại quân thù phải sợ kiêng.
Những kẻ thời nay ham lấn chiếm 
Đừng quên nước Việt láng hơn giềng!

Po Soc

*******

THANH GỖ “PHÁP QUYỀN” .Ls. Luân Lê

Tháng Năm 29, 2019

Đây là hình ảnh một tên côn đồ bịt mặt và đánh dân ngay chốt CSGT làm việc. Kẻ này thản nhiên truy đuổi và đánh đập người dân hết sức dã man nhưng không ai ngăn cản và cũng coi như hắn là người có quyền thực thi luật pháp vậy.

Những đám côn đồ kiểu này hay xuất hiện tại những chốt CSGT làm việc và thường xảy ra việc tấn công người dân khi người dân không đồng tình với các cảnh sát thực thi chức trách của mình.

Có đất nước nào mà lắm kẻ đeo khẩu trang và bịt mặt và hành động côn đồ rất ngang nhiên trước các điểm nóng về đấu tranh với các bất công của người dân như vậy hay không? Chính quyền ở đâu và tại sao lại để những tình trạng vô pháp đến mức vô chính phủ tái diễn ngày càng trầm trọng hơn? Tình hình an ninh trật tự phải chăng đang bị đe doạ nghiêm trọng hơn mỗi ngày?

Tại sao tại các điểm gần chốt CSGT hay các địa điểm xảy ra các xung đột căng thẳng giữa dân và doanh nghiệp hoặc chính quyền cơ sở lại có rất nhiều những đối tượng đeo khẩu trang tiếp cận và hành hung dân một cách trắng trợn và như kẻ có quyền hành vậy?

Không trừng trị nghiêm và ngăn chặn tình trạng này thì nhân dân nào được yên ổn và làm sao mà tình hình trật tự an ninh có thể đảm bảo? Và làm sao nhân dân có thể tin tưởng rằng, những điều này là ngẫu nhiên nếu nó không bị nghiêm trị và chấm dứt?