Từ bài học kinh tế đã qua nhìn về tương lai: Tám vấn đề cần được giải quyết

Vũ Quang Việt (*)

TBKTSG) – Như đã phân tích ở bài trước, chính sách phát triển lấy quốc doanh làm chủ đạo đã không mang lại những kết quả như mong muốn mà còn đưa đến nhiều hệ lụy khác về mặt kinh tế. Vậy phải làm gì để hóa giải?

Bài 1: Nhìn lại chủ trương lấy quốc doanh làm chủ đạo

Đầu tư quá sức để dành đưa đến tăng nợ nước ngoài

Nhìn chung, ta thấy dân chúng Việt Nam có tỷ lệ để dành khá cao so với nhiều nước khác (thường ở mức 30% GDP hay hơn), nhưng vẫn không đủ để đáp ứng với mức đầu tư quá đà cho tập đoàn kinh tế nhà nước để GDP tăng với tốc độ cao. Có năm như năm 2007 đầu tư lên tới 40% GDP. Đầu tư như thế tạo ra thất thoát, chỉ vỗ béo cho hệ thống tham nhũng, chứ không tăng được GDP tương ứng (xem biểu đồ 1).

Khi để dành không vượt đầu tư, nền kinh tế phải vay mượn nước ngoài và đây là chuyện bình thường trong phát triển, nhưng rất tiếc tăng nợ đã không tương xứng với tăng phát triển, không tạo được sức đẩy năng suất, một phần vì quyết định chọn lựa dự án đầu tư sai lầm (Vinashin, Vinalines, bauxite, luyện thép…), một phần vì tham nhũng. Nợ nước ngoài tăng mạnh từ 18,6 tỉ đô la Mỹ năm 2006 lên 72 tỉ đô la năm 2014, tức là tăng 3,9 lần, trong khi đó GDP chỉ tăng 2,8 lần. Hay nói cách khác, chủ trương tăng trưởng quá sức không những không đạt được mà còn đẩy nền kinh tế rơi vào khủng hoảng.

Tăng nợ công và tổng nợ của toàn nền kinh tế tăng

Việc áp dụng phân quyền triệt để là điều kiện để hạn chế biên chế nhà nước và chi ngân sách ngày càng phình ra không kiểm soát được.

Nợ công tăng mạnh là kết quả của chính sách quả đấm thép, lấy quốc doanh làm chủ đạo vì cần tiêu ngân sách và vay mượn trong và ngoài nước để tài trợ. Thâm hụt ngân sách ngày càng lớn, hiện nay ở mức 4-5% GDP theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) – nếu đo bằng dự toán thu chi (xem biểu đồ 2).

Tuy nhiên, nếu dựa vào thực chi – thực thu (chỉ có được sau 2-3 năm) thì con số thiếu hụt này lên tới ít nhất 6-6,5% GDP (dựa vào số liệu mà tôi đã kiểm tra, so sánh dự toán và kết toán thì thường kết toán cao hơn dự toán là 30-40%). Do ngân sách thiếu hụt lớn để tài trợ quả đấm thép mà nợ công ngày càng tăng cao.

Nợ công cuối năm 2014 bằng 90,8 tỉ đô la Mỹ, tức khoảng 53% GDP, trong đó 45 tỉ đô la là nợ nước ngoài. Tuy nhiên, nếu kể cả nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thì nợ công bằng 144 tỉ đô la, tức 84% GDP. Nhìn vào tỷ lệ lợi nhuận trên vốn của doanh nghiệp trong nước (xem bảng 3) thấp hơn lãi suất tiền gửi trên 10% năm 2009 và 7,6% năm 2013, vốn thà bỏ vào ngân hàng còn lợi hơn đem đầu tư.

Để đánh giá sức khỏe nền kinh tế, cần biết thêm nợ của cả nền kinh tế, chứ không thể chỉ xem xét nợ công. Theo tôi tính và đã công bố trên TBKTSG, nợ của toàn bộ nền kinh tế, kể cả nợ công và tư, vào cuối năm 2014 bằng 303 tỉ đô la Mỹ, lên đến trên 164% GDP. Ở Việt Nam, tăng GDP chỉ khoảng 6-7% nhưng nợ tới 164% GDP mà lãi suất ở mức 6-7% cũng không đủ trả nợ. Thu nhập từ phát triển như thế chủ yếu rơi vào túi tầng lớp có vốn cho vay.

Khi nợ nhiều, lãi suất cao thì tất nhiên rất nhiều doanh nghiệp tư nhân đắn đo trong việc đầu tư mới. Một số doanh nghiệp tư hoặc là công ty con của DNNN chạy theo vay vốn cũng đã rơi vào nợ nần cao.
Lạm phát cao và tư duy đầu cơ làm tăng nguy cơ nợ và nợ xấu

Lạm phát ở mức cao vài chục phần trăm thường đẩy nền kinh tế vào tình trạng đầu cơ về đất đai, chứng khoán, vàng và ngoại tệ. Người vay để trả nợ sẽ có lợi thế vì giá trị thật của món tiền vay giảm nếu giá cả và giá tài sản tiếp tục tăng. Tuy nhiên, nếu giá tài sản xoay chiều, giảm thì lại mang đến nguy cơ phá sản vì không trả được nợ.

Ở đây chỉ nhắc qua là VN-Index tăng từ 304 đầu năm 2006 lên mức 1.170 tháng 3-2007, sau đó tụt xuống 241 vào tháng 3-2009, và hiện nay 544 (tháng 2-2016). Điều này cho thấy tình hình đầu cơ vào những năm 2006-2007 và khủng hoảng sau đó. Tình trạng giá đất cũng tương tự, đưa đến tài sản không bán được, nợ và nợ xấu.

Vì nhiều cá nhân và doanh nghiệp nợ cao và không trả được, nợ xấu ngân hàng tất phải tăng cao, có lúc được các nhà phân tích nước ngoài ở Việt Nam cho rằng lên cao hơn 13%. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới đây tuyên bố nợ xấu ngân hàng đã giảm xuống dưới 3% (một ngưỡng mà các nhà kinh tế coi là ngân hàng có vấn đề khi đánh giá ngân hàng). Có hai lý do cho việc giảm này: báo cáo không đúng sự thật, hoặc nợ xấu đã được Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC) mua với giá zero, tức là nhận về những khoản nợ xấu này (ít nhất trong khoảng năm năm).

Chính sách lấy quốc doanh làm chủ đạo và xây dựng tập đoàn nhà nước làm quả đấm thép đã đưa nền kinh tế đến tình trạng trên. Chính sách này bị phê phán nên được hãm phanh một thời gian ngắn. Nhưng sau đó, với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, bắt nguồn từ Mỹ vào năm 2008, chính quyền Việt Nam lại nhân cơ hội, đưa ra chính sách kích cầu, vì cho rằng tình hình kinh tế Việt Nam đình đốn là do khủng hoảng toàn cầu, mà không nhận chân là khủng hoảng trong nền kinh tế là do chính sách nội địa, xây dựng các tập đoàn quốc doanh và lấy chúng làm chủ đạo.

Nhìn về phía trước

Những bài học trên đòi hỏi chính phủ Việt Nam sắp tới phải xem xét áp dụng những vấn đề sau:

1. Đặt nhiệm vụ của chính quyền là tạo bình đẳng trong hoạt động kinh tế, giữa DNNN và doanh nghiệp tư nhân, tạo ổn định trên thị trường, nhất là giá cả, và đó phải là nhiệm vụ cơ bản của chính sách tiền tệ của NHNN. Nếu lạm phát không thấp thì việc trả nợ sẽ rất khó khăn với tình hình nợ cao như hiện nay, nhưng đây không phải là lý do tạo lạm phát, đẩy nền kinh tế vào khủng hoảng nghiêm trọng hơn.

2. Khi Hiến pháp 2013 viết với điều 51 là “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” không có nghĩa là “doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo”. Hoàn toàn có thể diễn giải “kinh tế nhà nước là chủ đạo” theo nghĩa vai trò điều chỉnh trong chính sách tiền tệ, chi tiêu ngân sách và các chính sách kinh tế của nhà nước.

3. Nếu muốn ổn định giá cả, cần xem xét lại ý nghĩa nghị quyết của Đại hội XII về việc cho phép thiếu hụt ngân sách khoảng 4% GDP. Tỷ lệ thiếu hụt ngân sách trên GDP này là vượt mức tập quán thế giới cho phép 3% nếu như không có khủng hoảng. Trước tình hình nợ công rất cao hiện nay, việc cho phép một tỷ lệ thiếu hụt như trên là khó chấp nhận.

Ngoài ra, cần biết rõ chỉ tiêu trên là dựa vào dự toán chứ không phải kết toán. Nếu là kết toán thì tỷ lệ có thể sẽ cao hơn 30-40% như thường xảy ra cho đến hiện nay, tức là ít nhất sẽ lên đến 5,2%. Bơm tiền để tài trợ chi tiêu cho Nhà nước sẽ làm tăng lạm phát. Một trong những lý do mà Quốc hội không kiểm soát được ngân sách là việc tóm tổng hợp ngân sách trung ương và địa phương. Quốc hội có trách nhiệm thông qua và kiểm soát ngân sách trung ương và hội đồng nhân dân các tỉnh và thành phố có trách nhiệm với ngân sách địa phương. Luật ngân sách cũng đã phân quyền các khoản tự thu, tự chi và các khoản phải thu, phải chi có phân chia giữa trung ương và địa phương (theo các tiêu chí kinh tế – xã hội khách quan đã được định trước), cho nên việc áp dụng phân quyền triệt để là điều kiện để hạn chế biên chế nhà nước và chi ngân sách ngày càng phình ra không kiểm soát được.

Ít có nước nào có thu nhập thấp như Việt Nam lại chi ngân sách lên đến 27% GDP – số dự toán trung bình trong chín năm qua – như Việt Nam (và con số thật có thể bằng ít nhất 35% GDP).

4. Xem xét lại chính sách lấy DNNN làm chủ đạo, ít nhất là chấm dứt việc lập doanh nghiệp mới, cấm các DNNN tự quyết lập công ty con (quyết định lập doanh nghiệp mới hay công ty con phải do Quốc hội quyết định), chấm dứt ưu đãi về vay vốn cho DNNN.

5. Khuyến khích việc lập doanh nghiệp tư nhân (công ty đăng ký theo Luật Doanh nghiệp) là cơ sở cho phương pháp quản lý và công nghệ tiên tiến.

6. Chính sách của nhà nước là phải khuyến khích sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân, đồng thời có thể hỗ trợ bằng cách xác định các công nghệ cơ bản mà các ngành sản xuất phải làm chủ được, thay đổi hệ thống giáo dục nghề để thực hiện được mục đích trên. Cũng cần đòi hỏi DNNN phải có biện pháp nhận chuyển giao công nghệ khi làm ăn chung với nước ngoài. Cho đến nay có thể nói là Việt Nam không có chính sách về công nghệ (điều này khác hẳn việc có dự án đầu tư), thí dụ xây cầu là hoạt động của dự án xây dựng, nhưng nắm được toàn bộ kỹ thuật xây cầu tiên tiến là công nghệ. Nếu không nắm được công nghệ thì Việt Nam sẽ phải mãi mãi dựa vào thầu Trung Quốc.

7. Cổ phần hóa DNNN phải làm thận trọng, có đánh giá của chuyên gia độc lập (có thể có hai đánh giá: của chính phủ và của Quốc hội, dựa vào đánh giá sơ khởi của công ty); việc bán vốn nhà nước phải được quảng bá rộng rãi trên báo chí. Hướng chính là giảm tỷ trọng sở hữu của nhà nước trong doanh nghiệp về tài sản.

8. Sửa lại Luật các tổ chức tín dụng, xóa bỏ quyền một doanh nghiệp phi tài chính được sở hữu ngân hàng và công ty chứng khoán và ngược lại.

(*) Nguyên chuyên viên kinh tế của Liên hiệp quốc

Nguồn tài liệu:
1. ADB, Key Indicators for Asia and the Pacific 2015.
2. UN, National Accounts Main Aggregate Database.
3. Tổng cục Thống kê, Điều tra doanh nghiệp năm 2013. Số liệu của điều tra năm 2012 không thể kết hợp được với số liệu mới này vì cùng một năm 2012, số liệu ghi trong kết quả điều tra mới của tất cả loại doanh nghiệp điều chỉnh cao hơn từ 1 đến 5% nhưng số liệu về số doanh nghiệp, vốn, và doanh thu DNNN lại bị điều chỉnh thấp đi khoảng 2-5% nhưng lợi nhuận lại được điều chỉnh cao hơn gần 7%.

Advertisements

13 phản hồi to “Từ bài học kinh tế đã qua nhìn về tương lai: Tám vấn đề cần được giải quyết”

  1. Huong Says:

    Theo TS Vũ Quang Việt nợ công Việt Nam bằng 303 tỷ đô la bằng 164% GDP con số này gần bằng Hy Lạp là quốc gia nợ nần đầm đìa nhất của Liên Hiệp Châu Âu, với tổng số tiền lên đến 312 tỷ euro (tương đương với 177% GDP
    Trích (Để đánh giá sức khỏe nền kinh tế, cần biết thêm nợ của cả nền kinh tế, chứ không thể chỉ xem xét nợ công. Theo tôi tính và đã công bố trên TBKTSG, nợ của toàn bộ nền kinh tế, kể cả nợ công và tư, vào cuối năm 2014 bằng 303 tỉ đô la Mỹ, lên đến trên 164% GDP. Ở Việt Nam, tăng GDP chỉ khoảng 6-7% nhưng nợ tới 164% GDP mà lãi suất ở mức 6-7% cũng không đủ trả nợ. Thu nhập từ phát triển như thế chủ yếu rơi vào túi tầng lớp có vốn cho vay.)http://vi.rfi.fr/phap/20150716-khung-hoang-no-cong-vi-sao-chau-au-khong-the-bo-hy-lap

  2. chiên da diết kiến nghị Says:

    Theo tớ, cách giải quyết tốt nhất của Đảng & Chính phủ có thể & sẽ -vì phù hợp với quan điểm kiên định con đường Xã Hội Chủ Nghĩa- là (1) đổi cũ, đóng cửa với thế giới phối hợp với cải tạo tư sản (2) 2 đảng Cộng Sản sáp nhập, vì đi với Tàu sẽ không bao giờ mất đảng .

    Nếu được như vậy thì tớ ở ngoài này sẽ rót 1 chén riệu mừng đất nước đổi cũ theo con đường của Bác Hồ vĩ đại . Ngày Đảng & Chính phủ mở phong trào cải tạo tư sản, tớ sẽ cố về để chung vui với đất nước & con người Việt Nam .

    Cứ lấy tiền của tư bẩn tới bến luôn, Đảng & Chính phủ ui! Mình lấy tiền thối tha của tư bẩn để xây dựng chủ nghĩa xã hội tươi đẹp cũng là 1 cách rửa tiền; từ thối tha vì sặc mùi bóc lột giá trị thặng dư đến cao đẹp, phi giai cấp.

    • Hồng Hà Says:

      Theo nghiên cứu của tớ về cái bài được phát biểu bởi bạn thì bạn chẳng hiểu cái chết tiệt gì về kinh tế hay cơ cấu kinh tế mà chúng tớ muốn cùng nhau xây dựng cả. Bản chất của nó là: Tuy lãi lời không khủng như tư bản của các bác Anh- Pháp- Mỹ… nhưng nó bền, nó không bị lũng loạn, xuống cấp. Ok?

    • chiên da diết kiến nghị Says:

      Oh, bạn nghiên cứu có trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lê & tư tưởng Hồ Chí Minh không vậy ? Nếu không thì nên học lại để xứng đáng với danh hiệu hiền tài Xã Hội Chủ Nghĩa .

      Vả lại ô Vũ Quang Việt chỉ ra 8 vấn đề, tớ chỉ ra cách giải quyết trọn gói 8 vấn đề đó trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác-Lê & tư tưởng Hồ Chí Minh . Hay nói đúng hơn, không có vấn đề gì cả . No problemo.

  3. Kiên Định Says:

    Có hai thách thức lớn đối với Việt Nam. Thứ nhất, phải tìm được cách để tăng nguồn vốn đầu tư nước ngoài hơn nữa. Ngày nay, các nhà sản xuất ở các quốc gia thường hợp tác với nhau để tìm hiểu về nhu cầu của khách hàng và cùng nhau đáp ứng. Việt Nam cũng cần theo kịp xu hướng này.
    Tôi tin rằng tương lai kinh tế của Việt Nam rất sáng sủa nếu các bạn tiếp tục quá trình cải cách.

    • Xóa Điều 4 HP Says:

      Tiếp tục cải cách, kinh tế nhà nước có thặng dư. Sống theo điều 4 hiến pháp, “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” ra lệnh cho nhà nước VN, đưa tiền cho “”lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”, thế là xong, và hoàn toàn đúng luật (như cải tạo công thương miền nam năm 1978)!

  4. HẢI LONG Says:

    Chỉ trong 30 năm, Việt Nam đã giảm được tỷ lệ nghèo đói bần cùng từ 50% xuống gần 3% – một thành quả đáng kinh ngạc. Việt Nam hiện đang có cơ hội tập trung vào 3% còn lại này – chủ yếu là những người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, đồng thời cũng là những người dễ chịu ảnh hưởng nhất từ thiên tai, biến đổi khí hậu hay các cú sốc kinh tế.​Tính đến nay, gần 1.000 km kênh mương, đường xá được xây mới hay cải tạo đã góp phần giảm ngập lụt, cải thiện điều kiện môi trường cho 200 khu dân cư thu nhập thấp, hỗ trợ cho 2,5 triệu người gồm chủ yếu là người nghèo.Trẻ em ở các gia đình nghèo cũng cần được tiếp cận tốt hơn với các điều kiện học hành, dinh dưỡng, vệ sinh, từ đó có được những cơ hội tốt nhất để thành công khi trưởng thành. Ngoài ra còn có những cải cách khác như xây dựng hệ thống hưu trí bền vững, tăng tỷ lệ học hết cấp ba, phổ cập y tế toàn dân trên nền tảng một hệ thống y tế cơ sở mạnh.​

    • chiên da diết kiến nghị Says:

      “Chỉ trong 30 năm, Việt Nam đã giảm được tỷ lệ nghèo đói bần cùng từ 50% xuống gần 3% – một thành quả đáng kinh ngạc”

      Không có gì đáng kinh ngạc cả . Chỉ cần hạ thấp chuẩn nghèo là những người nghèo trở thành “không nghèo đủ”. Thế thôi . Tụi “dân oan” không tính là nghèo vì chúng là phản động .

  5. Dương Dương Says:

    Những kết quả nổi trội chủ yếu đạt được trong quá trình đổi mới cho đến gia đoạn hiện nay rất đáng khen ngợi. Và tất nhiên vấn đề đặt ra chắc chắn sẽ được Nhà nước giải quyết từng bước. Chỉ riêng việc Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh và thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đạt được nhiều kết quả; bổ sung tăng thêm được nguồn vốn cho đầu tư phát triển, tiếp thu chuyển giao công nghệ và phương pháp quản lý tiên tiến đưa nước ta chuyển biến gọn gàng về kinh tế đã khiến cả thế giới phải nhìn nhận lại mô hình kinh tế của chúng ta.

  6. BẢO VIỆT Says:

    Nếu không tự mình động não, nếu không tự mình thực hiện những ý tưởng của mình…. thì con người ta chỉ sống cho kẻ khác, chỉ là một kẻ ăn bám xã hội không hơn không kém! Nếu muốn kiếm được nguồn tài chính để trang trải cho cuộc sống của mình, hãy bắt đầu động não và hãy tự mình bắt tay vào làm cho chính mình với thời gian sớm nhất! Đó là hình tượng đang nói về một cá nhân. Khi nói đến phạm vi một quốc gia cũng vậy, Quốc gia đó phải tự thân sáng tạo để phát triển kinh tế, không phụ thuộc vào ai, trước hết phải dựa vào mình. Những quan hệ quốc tế chỉ là hỗ trợ. Kinh tế nội tại là cơ bản. Do vậy,khắc phục yếu kém, cải cách thể chế thay đổi tư duy về phát triển kinh tế, Việt Nam sẽ vượt lên nhanh chóng, nhất là khi ra nhập TPP cơ hội cho Việt Nam nếu giải quyết được những thách thức.

  7. Dương Dương Says:

    Phải công nhận là trang blog này nhảm nhí thật sự. Những gì mà các vị đưa ra cũng như giải pháp các vị to mồm kêu la ấy thật sự đúng hay sai thì những tổng kết về hiện thực nền kinh tế nhìn là biết. Không cần một trang vớ vẩn như thế này viết bố láo ra vài dòng rồi nói là tổng kết, đúc rút này kia.

  8. TÂY THI Says:

    Để tăng trưởng và thịnh vượng, một nước cần có luật pháp, sự cưỡng chế, tòa án, cơ sở hạ tầng cơ bản, một chính phủ đủ khả năng thu thuế và sự tôn trọng của người dân đối với những hình thức này. Những loại thể chế này là phương châm hoạt động của chủ nghĩa tư bản. Tham nhũng không chỉ gây ra sự bất lợi cho hoạt động phát triển của một quốc gia, mà còn là căn bệnh ung thư gây ra sự phân bổ không cân đối các nguồn lực, cản trở sự tiến bộ, và hạn chế đầu tư từ nước ngoài. Trong khi quan điểm của người Mỹ về chính phủ thay đổi từ sự thờ ơ đến thù địch, thì người dân ở hầu hết các nước khác đều đề cao chính phủ. Nghiên cứu tiến hành điều tra trên 64 thuộc địa cũ và phát hiện ra rằng sự chênh lệch về của cải hiện tại của họ có thể là do sự khác biệt về chất lượng của các thể chế chính phủ cai trị trước đó. Ngược lại, chất lượng của những thể chế chính phủ này lại phụ thuộc vào mô hình xâm chiếm thuộc địa sơ khai. Nguồn gốc hợp pháp của các nước thực dân như Anh, Pháp, Bỉ không có ảnh hưởng đáng kể (mặc dù chất lượng thể chế do người Anh đặt ra có vẻ như tốt hơn bởi thuộc địa của họ là những vùng đất dễ cai trị hơn).

  9. Nguyễn Công Hoan Says:

    mới đọc tưởng như tác giả muốn phân tích những yếu kém của nèn kinh tế nước ta rồi đề xuất một số giải pháp nhưng thật ra thì đâu có đơn giản như thế toàn thấy nói đến sự yếu kém trong quản lí nhà nước cũng như đinh hướng của Đảng, thế xin hỏi những thành tựu chúng ta đạt được trong thời gia qua tự nhiên mà có à, chúng ta được thế giới đáng giá cao về sự tẳng trưởng kinh tế là do đâu, tất nhiên là vẫn còn những tồn tại nhưng không phải không có cách giải quyết, chúng ta vẫn đang cố gắng khắc phục nó rất tốt

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: