CHÍNH HỮU: Ngọn đèn đứng gác đã tắt

LÊ XUÂN QUANG

Tiểu luận (Nhân ngày giỗ thứ 8 của nhà thơ mà tôi yêu thích : 27.11.2007 . 27.11.2015)

CHÍNH HỮU: Ngọn đèn đứng gác đã tắt/Người thắp ngọn đèn và người đứng gác cũng đã nhắm mắt rồi

Tôi đã định viết về nhà thơ Chính Hữu, nhưng rồi cứ lần nữa mãi. Đột nhiên chiều  nay (28.11.2007) đọc được tin Chính Hữu đã ra đi vào cõi vĩnh hằng. Một cảm gíac tiếc nuối trong lòng ập đến. Chính Hữu  là nhà thơ để lại trong tôi kỉ niệm khó quên. Ông viết it hơn các nhà thơ cùng thời nhưng lại được người yêu thơ nhớ tên và dành cho ông sự ngưỡng mộ sâu sắc, nhất là tầng lớp sinh viên, học sinh. Nếu kể tên những thi phẩm nổi tiếng của Chính Hữu, chắc chắn nhiều người đều thống nhất: Đồng Chívà Ngọn Đèn Đứng Gác (NĐĐG).

Đồng chí được tác gỉa viết từ hồi kháng chiến chống Pháp, bài thơ được phổ nhạc nhưng phải vài chục năm – sau 1975 – ca khúc Đồng Chí mới được người yêu nhạc rộng rãi – biết đến. Ngọn Đèn Đứng Gác Chính Hữu viết  trong chiến tranh chống không quân của Hoa Kỳ (khoảng năm 1965 – 1967). Tôi có một kỉ niệm  khó quên về bài thơ NĐĐG – có thể nói là một cơ may mà Ngọn đèn đứng gác giành cho, đã cứu tôi thoát hiểm:

Cuối năm 1967, cơ quan cho đi học. Tôi thu xếp công việc rồi lên đường. Dạo đó máy bay Mĩ ném bom, đánh phá vùng Mỏ ác liệt trên suốt chặng đường dài hơn 30 cây số từ Cửa Ông đến Bãi Cháy – Hồng Gai. Lường trước gay go, từ Cẩm Phả, khởi hành lúc sáng sớm, để đi vòng qua đường 18b (tránh nhà máy điện cọc 5 và thị xã Hồng Gai). Thế mà vẫn bị máy bay Mỹ đánh phá cầu trên đường 18b, phải tránh, trú… mãi 10 giờ đêm mới đến ngã ba Yên Lập (nơi giao nhau của 2 quốc lộ số 10 và 18) – để đến tập trung ở Quế Võ – Hà Bắc.

Trời tháng chín, mới vào đông, đầu tuần trăng – tối như bưng. Đang lưỡng lự tìm cách đạp nhanh hi vọng vượt qua thị xã Uông bí để đến Đông Triều trứơc 12 giờ khuya.  Thấy bên đường còn le lói ánh đèn. Phần thì mệt, phần khác lúc ra ngã ba Giếng Đáy, loáng thoáng nghe nói nhà máy điện Uông Bí vừa bị đámh phá thiệt hại rất nặng. Tôi quyết định vào hỏi thăm. Đến gần, nhận ra đây là chiếc chòi gác. Ngoài cửa treo chiếc đèn Chai, trùm bên ngoài là một chiếc chụp kín vuông bốn cạnh – giống chiếc đèn của người gác đường sắt. Ở hai hướng ngược nhau, mặt kính của chụp đèn đưọc sơn hai mầu Xanh – Đỏ. Mầu xanh – báo hiệu vùng đất yên bình, an toàn. Mầu đỏ cảnh báo bắt đầu vào vùng nguy hiểm. (nhìn thấy mặt kính đỏ hướng về phía mình). Chưa kịp lên tiếng, từ trong chòi gác một bóng người đi ra, cất tiếng hỏi: Đồng chí định đi đâu? Không để cho tôi trả lời, người kia tiếp: Yêu cầu quay lại. Đường này đã bị máy bay địch đánh phá tắc nghẽn…

– Thưa … tôi cần phải đi ngay vì…

– Không thể, làm gì còn đường mà đi.

Thấy tôi xững sờ, người kia hạ giọng: Vào đây tôi nói cho biết. Giọng rất thân tình nhưng toát lên vẻ cương quyết. Thời chiến, lại là lời của người có trách nhiệm, tôi miễn cưỡng đi vào. Dưới ánh đèn tù mù, xanh lét, nhìn thấy người đàn ông trung niên, gầy gò, so vai – trông như người nghiện – trạc trên dưới 40 tuổi. Điều đập vào mắt: Anh bị thọt – tôi nghĩ ngay và đóan – chắc anh là thương binh thời chống Pháp.

Không gian chiếc chòi rộng chừng 3, 4 mét vuông. Chủ kéo chiếc ghế ngựa từ trong gầm giường cá nhân mời khách ngồi, đoạn lôi tiếp từ gầm bàn ra chiếc ấm tích, rót đưa cho khách một bát. Khi tôi nhận bát nước nóng hổi, toả mùi vối cay cay,  thơm lừng, anh tiếp: Làm hớp nước vối nóng cho ấm bụng đã.

Hớp ngụm, nhưng lòng nóng ran không phải vì nước nóng mà vì sự lo lắng nên vội vàng giải thích: Thưa đồng chí, ngày kia tôi phải nhập học, nếu hôm nay không đi, đến chậm sẽ lỡ buổi khai trường… Có còn cách nào khác để đi không. Hay là đi vòng tránh Uông Bí?

– Không. Tôi đã nói rồi. Đến đây  ’’Người thương binh’’ dừng lại, chậm rãi nhồi thuốc vào nõ điếu, bật lửa, châm…

Khách không kìm được nôn nóng, bật ra: Vì sao cơ?

– Vì không có đường đi – người kia nuốt khói thuốc, chững lại đoạn tiếp: Đường 18 đi qua thị xã Uông bí đã bị cày xới biến thành ao hồ. Điều quan trọng: Cầu vào thị xã đã bị bom đánh xập, sông ở đoạn này rộng, sâu. Còn đi vòng ư? Lại càng không được vì nếu muốn, phải về Núi Đèo (Thủy Ngyên), ra đường 5 rồi về Hải Dương sang Nam Sách về Phả Lại. Mua đường, xa gấp ba!

– Thế không có đường đi vòng gần hơn à?

– Có, đi qua đập tràn rồi xuyên qua đường nội bộ nhà máy đuện, ra phía của Bắc. Nhưng gay nhất, sau khi qua đập tràn, con đường nội bộ của  nhà máy cũng đã bị hủy hoại. Trời tối như thế này, cậu – anh đổi cách xưng hô – làm sao tìm được lối ra khỏi bãi bom, ngay một mình vượt qua đoạn này cũng khó huống hồ còn xe đạp và lỉnh kỉnh đồ dùng… mà – anh ngừng lại như lấy hơi, tôi im lặng nghe chăm chú, anh tiếp: Lạc vào bãi này rất nguy hiểm. Vẫn còn bom nổ chậm, bom hẹn giờ, bom từ trường, cả bom bi và nếu không ra kịp tước 8 giờ sáng mai thì nguy…

– Thế… thế – tôi hoảng hốt không diễn tả tiếp được ý nghĩ, chỉ ấp úng… đột nhiên anh nổi cơn ho khan, dài. Tôi không chú ý vì đang maỉ suy nghĩ tìm cách vượt bãi bom… Khi dứt cơn ho, anh nhìn thẳng vào tôi, bảo: Tốt nhất cậu hãy ngủ lại đây. Sáng sớm mai vượt đập tràn. Phải đi nhanh trong vòng 30 phút trước khi bọn ’’Qụa sắt’’ tới quẳng thần chết xuống. Chúng đang quyết tâm hủy diệt nhà máy điện.

– Nhưng nghỉ ở đâu? Chả lẽ lại chiếm chỗ nằm của anh trong chòi này?

– Yên trí. 15 phút nửa tôi thay ca, cậu về nhà tôi nghỉ tạm, nhà cũng gần đây thôi. Anh dứt lời lại nổi cơn ho rũ rượi. Tôi nhìn anh lúng túng suy nghĩ xem có thể giúp được gì… có thể anh lạnh vì chỉ mặc phong phanh một chiếc áo sơ mi, chiếc vỏ áo bông xanh cũ, bạc mầu vẩn vắt trên thành giường, tôi tiến đến cầm áo đưa – anh nhận, cùng lúc nhớ ra: Dầu Cao Hổ nóng sẽ chữa ho khá hữu hiệu, vội lục ba lô đưa cho anh hộp cao còn mới nguyên mà Mẹ chuẩn bị cho trưóc lúc lên đường rời Mỏ, bảo: Em biếu anh để chống rét, xoa vào họng sẽ hết ho. Em còn hộp nữa.. ’’Anh Thương Binh’’nhận, ngước mắt nhìn tôi đầy vẻ biết ơn.

Ngoài cửa vang lên tiếng hỏi: Xe của ai đây, hả đồng chí Dậu?

Tiếng nói dứt xuất hiện một ông gìa cao gầy, đầu tóc bạc phơ. Dậu đã ngừng ho đứng dậy, đáp: Của chú này. Cậu ta muốn vựơt bãi bom, tôi không cho đi… bác chú ý: đừng cho bất cứ ai đi qua thị xã vào lúc này nhé. Tôi đưa cậu ta về nhà nghỉ qua đêm, sáng mai cậu ấy phải đến trường nhập học.

– Đồng chí yên tâm. Tôi sẽ làm theo đúng mệnh lệnh. Ông gìa giở sổ trực ban, ghi… rồi quay sang tôi, nheo mắt, hỏi: Chú làm gì mà vội đi thế. May mà thủ trưởng đã kịp giữ lại… nếu không sẽ phải loay hoay trong khu vực này đến sáng may ra mới ra khỏi. Mà đến sáng thì… thôi, về nghỉ đi, sáng mai qua bãi bom sẽ rõ tất cả.

Anh Dậu không để cho tôi mè nheo, con cà con kê – lôi đi.

Chúng tôi đi trong bóng đêm. Hơn nửa giờ sau tới ngôi nhà nằm ven sườn đồi. Anh thắp đèn. Đặt trong chiếc chụp làm bằng mo cau để ngăn ánh sáng. Căn nhà tồi tàn, trống huếch trống hóac. Như đoàn được ý khách, Dậu giải thích:

– Nhà mình và 2 chắu sơ tán về quê. Tớ ở môt mình để dễ xoay sở. Để tớ làm chút gì ăn cho ấm bụng đã. Dứt lời anh đi xuống bếp, mươi phút sau bưng lên rá khoai lang luộc vẫn còn âm ấm, tôi cũng mở túi lấy ra gói xôi lạc, gói muối vừng mẹ chuẩn bị cho đủ ăn đường trong 2 ngày. Xôi lạc, khoai lang luộc chấm muối vừng rồi uống nước vối đặc – thật hợp khẩu vị. Hai anh em ăn mỗi thứ hết một nửa, anh Dậu gói nắm xôi lại cùng mấy cũ khoai lang bảo tôi bỏ vào bọc để ngày mai ăn đường. Hai anh em tranh thủ đi ngủ.

Cả ngày luồn lách, tránh né… bây giờ mệt, đặt lưng là ngủ ngay.

Đang mơ màng, thấy có người lay động, tôi mở choàng mắt: Ngoài trời đã mờ sáng! Vùng dậy ra giếng đánh răng rửa mặt, xong trở vào, thấy anh Dậu đang ngồi chờ bên bàn, hối thúc: Cậu lên đường ngay! Làm sao phải vượt qua đập tràn rồi cứ chiếu theo cột ống khói – hướng cổng ra – vượt đoạn đường nội bộ này rồi đạp nhanh, thoát khỏi địa phận thị xã Uông Bí càng nhanh càng tốt.

– Mà này, cậu mang nhiều thế kia sẽ mệt. Tốt nhất: Gói gọn vào chiếc ba lô đeo lên vai. Khi cần còn phải vác cả xe và… chạy cho nhanh. Cái gì không cần thiết vứt bỏ kẻo lùng nhùng với những thứ này, máy bay đến không xử lí kịp sẽ rất nguy hiểm.

Nghe lời Dậu, tôi vất lại những cuốn tiểu thuyết, tập thơ, bếp dầu, can dầu… chỉ mang quần áo, một nắm xôi chống đói còn bỏ lại có dễ gần chục kí. Thây vây Dậu ái ngại: Cậu thông cảm… tôi không có ý…

– Ôi anh! Em hiểu!

– Thế thì lên đường đi. Theo quy luất đánh phá mấy hôm nay: Cứ khoảng từ 7 đến 8 giờ sáng, bọn nó từ ngoài biển lao vào. Giờ này không ai dám lảng vảng quanh thị xã.

Tôi xiết chặt tay người thương binh. Anh Dậu ôm lấy tôi, vỗ vào lưng như người anh chia tay đứa em. Mấy chục giây sau, anh buông ra thúc tôi lên đường. Tôi không ý thức được cuộc chia tay với người bạn mới quen nhau có một đêm, mà sau này tôi còn có dịp kể lại về con người… về Ngọn Đèn Đứng Gác ở ngả ba Yên Lập này…

Nhưng đó là 6 năm sau.

Còn bây giờ: Sau khi đã bố trí, nai nịt lại, tôi thấy gọn nhẹ, đạp thoải mái. Chỉ 10 phút đạp xe, tới đập tràn của nhà máy nhiệt điện Uông Bí. Đâp không bị hư hỏng nặng nên chỉ một loáng đã tới bờ bên kia. Khi dắt xe lên mép đường. Tôi giật thót người: Trước mắt, không có dấu vết gì của con đường, hay khung cảnh của một nhà máy điện , mà chỉ còn các hố bom, miệng rộng chừng vài ba chục mét. Hai bên các đụn đất do bom nổ gom lại, nhô cao che mất tầm nhìn. Ở cạnh mép các hố bom những mảng tường Bê tông đổ nghiêng ngả, vỡ toang hóac. Nhơ lời Dậu, tôi vác chiếc Sputnhich lên vai , men theo các hố bom, chiếu thẳng cột ống khói mà đi – hay nói đúng hơn là chạy. Mép hố bom có các đụn đất thịt, trơn ướt làm tôi mấy lần ngã dụi nhưng lại nhanh chóng gượng dậy và lao… lao…

Trời sáng dần…

Có lẽ khoảng hơn 7 giờ…

Một cơn gío thoảng, khiến tôi rùng mình: Mùi khét của cao su cháy, mùi hôi thối do các thi thể của các chiến sĩ, công nhân của nhà máy bị bom, hi sinh từ mấy hôm nay, chưa được khai quật – bắt đầu phân hủy, tỏa lan. Bây giờ mới thấm lời của ông gìa lúc thay gác cho Dậu – cảnh báo. Đột nhiên các thứ mùi và sự ghê tởm, sự khiếp sợ biến bay, chỉ còn lòng quyết tâm đi, chạy thoát vùng đất tử thần này… Tôi ghé vai vác chiếc xe đạp nặng chừng hơn hai chục kí và chiếc ba lô hơn chục cân – chạy băng băng… ra khỏi vùng bãi bom, đã có đường, tôi đạp xe như một tay đua xe đạp thực thụ trên chiếc xe đua của Liên Xô ở đoạn nước rút…

Chợt như có gì tông mạnh vào lưng, tôi cùng chiếc xe lao vào vệ đường ngã dúị.

Cùng lúc tiếng nổ vang lên. Ngoảnh lại phía sau – chỉ cách nơi tôi ngã chừng mấy trăm mét: Nhà máy điện Uông Bí ngập chìm trong khói bom và tai tôi ù đi vì tiếng nổ liên hồi – như có cả một dàn trống đặt cạnh tai do nhiều người cùng gõ… Đã có kinh nghiệm, chờ cho lượt bom dứt, tôi nhỏm dậy, dắt xe và đạp… đạp… cho tới khi cách xa thị xã Uông bí hơn cây số mới yên lòng. Lúc này lời nói của ông gìa bên ngọn đèn dầu cảnh báo lại vang lên, rồi liên tưởng, nhớ lại khoảnh khắc tối qua: Nếu tôi không nhìn thấy ngọn đèn dầu treo ở chiếc chòi gác của dân quân làng Yên Lập mà vào… nếu tôi không được anh thương binh Dậu tốt bụng cho ngủ đêm… thì đến giờ sự thể sẽ ra sao?

Ôi! ngọn đèn dầu hỏa trong đêm khuya, thời chiến tranh chống không lực Hoa Kì – mới tuyệt diệu làm sao. Nơi nào giầu thì dùng đèn bão. Nới nghèo – nông thôn – thì đèn tự tạo: Phao dầu làm bằng chai hay lọ mực Cửu long, bóng đèn làm bàng cái chai ¾ lít, cắt đáy và cắt cổ, chụp bên ngoài để ngọn lửa khỏi tắt dù mưa gió hay diông bão đèn dầu vẫn soi đường cho con người trong đêm thâu…

Tôi đến trường an toàn, nhập học đúng hạn.

Vào cuối học kì, một buổi trưa, sang nhà mấy cậu học giỏi hỏi bài. Thấy có 5 người – 1 nữ, 4 nam – vây quanh chiếc Radio tự lắp, đặt trên chiếc bàn đóng ghép bằng tre . Họ đang học hát theo hướng dẫn của phát thanh viên đài TNVN. Tôi ghé vào va cùng học theo: Đó là bài Ngọn Đèn Đứng Gác do nhạc sĩ Hoàng Hiệp lấy hầu như trọn vẹn bài thơ của Chính Hữu làm lời cho bài ca khúc của mình. Chúng tôi học say sưa và thuộc ngay. Tổng kết học kì nhóm văn nghệ lấy ngay ca khúc NĐĐG làm tiết mục trình diễn.

Hết học kì I, đầu năm 1968, vào học kì 2, chúng tôi được tập trung ở thôn Quế Ổ học quân sự 1 tháng. Thấy gíao phụ trách khóa học là Đại Úy Bắc Việt – Trưởng phòng Quân sự của trường . Theo thông lệ, kết thúc khóa học, buổi chiều, lớp mở liên hoan (cả lớp gòp tiền mua con chó giết thịt và rượu ngang loại ngon do dân trong làng – nấu). Đêm – tổ chức văn nghệ Cây nhà lá vườn – ở trong Hội trường của Hợp Tác Xã. Gần 100 sinh viên và mấy trăm dân làng tập trung dưới ánh đèn Măng sông nghe Sinh viên và thầy giáo biểu diễn. Đại úy Bắc Việt cao, gầy, cầm cây Guitar vừa đàn vừa hát  Giọng ông cao, vang xa… nghe nói trước đây ông là ca sĩ trong đoàn văn công Tổng Cục Chính Trị…Tại buổi liên hoan văn nghệ, lần đầu tiên tôi được nghe Đại úy trình diễn những ca khúc nổi tiếng thời tiền chiến… ông hát Ngòn Đèn Đứng Gác theo một phong cách đặc biệt: Hát nhưng có đoạn như đọc, giãi bày – thơ… một cách trình diễn mà chúng tôi cho rằng chỉ có Đại úy – Ca sĩ – Bắc Việt mới tạo được phong cách này. Chúng tôi đề nghị ông hát NĐĐG tới 4, 5 lần… ông vui vẻ đáp ứng. Bởi vì những ca khúc của Hoàng Hiệp thường lấy Thơ phổ thành lời ca. Nhạc sĩ Hoàng Hiệp sau khi phổ bài Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây của Phạm Tiến Duất giờ đến lượt Ngọc Đèn Đứng Gác, dư luận tuổi trẻ đã tôn vinh Hoàng Hiệp là ’’Vua phổ thơ’’. Trong nhạc của Hòang Hiệp có Thơ, còn Thơ của Chính Hữu, của Phạm Tiến Duật đã được Nhạc của Hoàng Hiệp nâng, tôn – lên, tạo cảm xúc rạt rào làm lay động lòng người! Đêm đó, dù đã gần 40 năm trôi qua (2.1968 – 12.2007) , nhưng Ngọn Đèn Đứng Gác vẫn đọng lại trong tôi, có lẽ chẳng bao giờ phai…

Phải nói lại hồi kết của câu chuyện NĐĐG này:

Trước tết năm 1973 – Hiệp định Paris được kí kết, tôi kết thúc khóa học, tranh thủ về thăm nhà trước khi đi nhận công tác mới. Thời kì đó phương tiện giao thông chính là chiếc xe đạp vì từ Gia Lương về Cẩm Phả không có tầu xe. Đạp xe qua thị xã Uông Bí tới ngả ba Yên Lập, tôi quyết định ghé vào thăm anh Dậu – người anh, người bạn một đêm của tôi – 6 năm trước. Không còn nhớ ngôi nhà anh ở đâu vì đêm đó trời tối, đành ghé vào khu vườn, nơi họ đã từng đặt trạm gác. Gặp mấy người hỏi, không ai biết Dậu, rất may gặp một người cùng trong trung đội dân quân khi xưa. Anh Dũng cho biết: Anh Dậu đã hi sinh năm 1970, (sau khi tôi đi được 3 năm). Vào một đêm, khi anh làm nhiệm vụ trực, máy bay Mĩ đã phát hiện mục tiêu qua ánh sáng của ngọn đèn dầu (dù đã được ngụy trang rất kín)… chúng bắn, rốc két nổ ngay bên cạnh chòi gác. Dậu đã đã hi sinh – Dũng buồn rầu kể lại.

– Vậy mồ anh ấy chôn ở đâu? – tôi hỏi.

Dũng dẫn tôi tới ngôi mộ nằm ở khu ruộng cách ngả ba Yên Lập không xa. Nấm mồ trông hoang dại, đất đắp thấp , vài cây Sim loè tòe. Anh Dũng chỉ ngò đất, buồn rầu : Đây là ngôi mộ của Dậu. Trong quan tài chỉ có mấy mảnh thi thể. Qủa tên lửa nổ gần đã khiến anh ấy không còn toàn vẹn…

Tôi tiến tới, qùy, phủ phục xuống ngôi mô vái nhiều vái. Giòng nước mắt trào đẫm trên má. Hình ảnh của đêm xưa lại hiện ra: Ngọn đèn chai… trạm gác… bát nước vối nóng hổi… củ khoai lang luộc và những lời ân cần dặn dò tôi trước lúc chia tay. Tôi thầm thì: Anh Dậu ơi! Em đã về đây… Lúc ấy – đột nhiên trong tôi vang lên tiếng hát của Đại úy Bắc Việt:

Trên đường ta đi đánh giặc

Dù về Nam hay ta lên Bắc

Ở đâu

cũng gặp

Những ngọn đèn dầu chong mắt suốt đêm thâu

Ôi ! Những ngọn đèn không bao giờ tắt

Như những tâm hồn không bao nhắm mắt

Như miền Nam…

Vâng, giờ thì ngọn đèn – đã tắt, người thắp ngọn đèn và cả người đứng gác cũng đã nhắm mắt rồi…

Berlin – Chiều 28.11.2007

LXQ

 

Advertisements

2 phản hồi to “CHÍNH HỮU: Ngọn đèn đứng gác đã tắt”

  1. hồ Says:

    Bài viết thật cảm động về một thời mà người ta không còn con đường nào khác hơn là phải “sẵn sàng” hy sinh cho “tổ quốc” – tưởng hết chiến tranh là sẽ có tương lai tốt đẹp, có xã hội công bằng.
    Hết chiến tranh, hóa ra xã hội “XHCN” ở VN còn bất công, đày tệ nạn và chết chóc còn hơn cả chế độ của Mỹ, của “nguỵ quyền Sài Gòn”!
    Những kẻ hưởng lợi chỉ là bọn thống trị “tư bản đỏ” CSVN.
    Vì bất công, thối nát, cho nên chúng phải nuôi đàn chó côn an, nuôi lũ Lợn tuyên giáo đông đảo để đàn áp, lừa bịp nhân dân VN.
    Những người xưa kia làm nhiệm vụ “những ngọn đèn đứng gác” thì nay trở thành “dân oan” trên mọi miền đất nước. Họ bị cữơng bức, nhét vào tù, họ là “những ngọn đèn thức tỉnh lương tâm”!

  2. Mr.gia Says:

    Bài viết gợi nhớ lại những năm tháng khủng khiếp ở miền bắc.Bạn nói đúng không có con đường nào khác nhưng hy sinh cho tổ quốc hay hy sinh cho tập đoàn tham vọng quyền lực.dám chắc lịch sử sẽ có ngày đưa những kẻ chủ chiến ra phán xét.chính những tham vọng quyền lực của một số cá nhân đã đẩy cả dân tộc vào vòng khói lửa điêu linh thảm khốc.Đến nay mặt nạ cũng đã rơi, tài sản tiền bạc của chúng kếch sù gấp nhiều lần địa chủ tư sản ngày xưa vậy mà chúng vẫn vỗ ngực là giai cấp VÔSẢN thế có chó k

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: