Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 39

Phạm Thành

Kính bạn đọc

Tiểu thuyết “Cò hồn Xã nghĩa” đã đi sát tới phần cuối của tập 1. Qua phát hiện của bạn đọc, Phạm Thành tôi biết mình đã post thiếu đoạn 12 và đoạn 39. Hai tháng trước đây, Phạm Thành đã post đoạn 12, nay Phạm Thành post tiếp đoạn 39. Trong số thứ tự, bạn đọc thấy có khoảng cách từ 39 nhảy cóc lên 47. Về hình thức thì thiếu các đoạn 40,41,42,43,44,45,46, nhưng thực chất tiểu thuyết vẫn liên tục. Có sự nhảy cóc đó là do Phạm Thành chia lại một số đoạn mà nhảy cóc số thứ tự như vậy thôi. Vậy, Phạm Thành thông báo để các bạn biết, yên tâm đọc tiếp.

39.

Nước Mynga, lúc bác Hà Độ treo cổ chết, là lúc hợp tác xã nông nghiệp đã nhất loạt hoạt động trên cơ sở: Điều lệ hợp tác xã bậc cao được mươi, mười lăm năm trời. Cả nước là một hợp tác xã. Cả xã là một hợp tác xã. Nước Mynga đã là một nước Xã nghĩa tòan tòng. Nhân dân đã hiền thục toàn tòng và sự hiền thục toàn tòng này đạt tới đẳng cấp chói lọi.

Nghĩa là, không còn nhân dân nào ở ngoài cái rọ tập thể nữa.

Nghĩa là, tính hiền thục của những công dân mới, được sánh ngang những con ngan, con gà, con chó ngoan mà đám đồng chí Hò Văn Đản là người chăn dắt, cấp phát đồ ăn nuôi dưỡng.

Nghĩa là, đám đồng chí Hò Văn Đản giơ cây gậy lên phía bên này thì nhân dân như ngan, vịt dạt về phía bên kia; cây gậy giơ về phía bên kia thì ngan, vịt dạt về phía bên này.

Trong đám công dân hiền thục toàn tòng đó, còn có thứ công dân luôn đứng ở tốp đầu chót vót của đẳng cấp hiền thục toàn tòng chói loại, đó là một lũ chó vừa ngoan, vừa rồ dại, vừa hung bạo. Đám đồng chí Hò Văn Đản sai sủa đi, cắn đi, tối về tính công cho nắm cơm, cho cái giấy khen, thế là chúng thi nhau cắn, sủa liền. Đám đồng chí Hò Văn Đản bảo, phải nhai đi, gặm đi, thế là cả một bầy công cụ của hắn lại nhai, lại gặm rào rào.

Ngoan và tuân lệnh thì được đám đồng chí Hò Văn Đản đưa vào danh sách những công dân đỏ của chính quyền, được đào tạo, vào đảng, lên cán bộ, lĩnh lương do nhà nước phát.

Chẳng mấy công dân Mynga từ chối những lời mời mọc và sự chăm sóc tận tình này của đám đồng chí Hò Văn Đản. Họ ngoan ngoãn vâng dạ, cúc cung tận tụy thực hiện nghiêm túc những chỉ thị, mệnh lệnh cũng như những lời sai khiến của đám đồng chí Hò Văn Đản để dần dần thăng tiến. Đám đồng chí Hò Văn Đản coi những người này là lực lượng nòng cốt, những cái đinh của thế trận thiên la địa võng nhân dân và họ bị buộc chặt cuộc đời họ vào cái nồi cơm có đảng, có mình[1], bất chấp nồi cơm đó là máu, là xương của đồng loại.

*

Sau cái đận đắp đập rồi lại phá đi, quai đê lấn biển bị nước cuốn đi, đường giao thông chỉ sử dụng qua một mùa mưa thì hỏng, nát; lại do mùa màng thất bát liên miên, dân Mynga thiếu lương thực, đành ăn rau, ăn lá đắp điếm qua ngày lâu dài nên sinh ốm đau, bệnh tật la liệt.

Để bảo vệ sức khỏe cho dân, đám đồng chí Hò Văn Đản ra lệnh cho xây một cái bệnh viện và mở các lớp tuấn huấn đào tạo bác sĩ.

Giữa lúc ấy thì bác Minh Quân xuất hiện trở lại.

Bác Minh Quân là một người khôn ngoan. Sau khi biết cha tôi bị bắt, biết chắc tôi thế nào cũng sống được, bác lặng lẽ chuồn khỏi bệnh viện mà không hề có lời từ biệt vợ con bác. Bác cứ tưởng bác là bác sĩ lại thân thiết với cha tôi mà không bị Đội Cải cách sờ đến. Bác cứ tưởng thày Ký Định bị chôn sống đã được chính quyền minh oan bằng cái giấy hoãn tử hình do chính Hò Văn Đản ký là thể hiện sự trân quý những người hành nghề cứu người mà bác sẽ không bị Đội Cải cách đem lên đoạn đầu đài nữa. Nhưng nay thấy Đội Cải cách bắt cả cha tôi thì bác biết chắc bác cũng không thể thoát.

Bác tự thấy bác cũng có cái bằng y tá do Tây đào tạo, nên trong lòng bác lo sợ bội phần. Tim bác đập chộn rộn, đầu óc bác cứ hiện hình lên cảnh Đội Cải cách tử hình quá dã man thày Ký Định.

Bác thấy bọn Cải cách giương súng nhằm vào thày Ký Định bắn mà như thấy bọn chúng đang giương súng nhằm bắn vào tim bác.

Thấy tay Đội trưởng Đội Cải cách dí súng lục vào tai thày Ký Định bắn, mà bác thấy như chúng đang dí súng bắn vào tai bác.

Thấy Đội Cải cách cầm mai, xẻng xỉa vào thày Ký Định, xúc đất hắt thẳng vào thày Ký Định mà bác thấy như chúng đang xỉa vào bác, đang hắt thẳng đất đá chôn sống bác.

Bác lặng lẽ rời bệnh viện mà run rẩy, lập cập, chân nọ đá chân kia, người đầm đìa mô hôi, lết thân chạy trốn về phía trước mà bác chẳng biết nó là phía nào.

Cho đến khi cả thân bác rơi tỏm xuống sông Cầu Chày thì tâm trí bác mới chợt tỉnh.

Bác ngụp lặn, bơi sải một lúc thì sang được bờ sông bên kia. Chân tay bác rả rời, cơ bắp nhũn nhụn, nhưng bác vẫn cố leo, cố lết, cố bò lên bờ.

Khi lên được đến bờ, bác nằm ngửa ra, hai tay, hai chân dang rộng, xoải thẳng như một cái xác chết, vô hồn.

Một lúc sau, bác mới hoàn hồn.

Bác lập cập cởi quần áo đang mặc ra, rồi vắt kiệt nước, rồi trải lên phơi trên ngọn bụi rưới dại. Bác quẩn quanh ẩn nấp xung quanh bụi rưới dại cho đến khi mặt trời xuống núi, bác mới vận quần áo chỉnh tề vào người, rồi nhằm hướng Tây chạy trốn.

Hôm sau, Đội Cải cách hùng hổ đến bắt bác để trị tội, nhưng Đội Cải cách lùng sục mãi mà vẫn không tìm thấy bác ở đâu nữa.

Đám đồng chí Hò Văn Đản tức lắm.

Hắn bèn bắt giam vợ con bác lại, rồi tra tấn, đe dọa. Nhưng vì vợ con bác cũng không biết bác đang trốn ở đâu nên vợ con bác chỉ bị giam, bỏ đói, bỏ rét cả tháng trời rồi cũng được thả ra.

Bác biệt tích, vợ con bác được tha, nhưng nội ngoại của nhà bác có gần hai chục người bị lên đoạn đầu đài của bọn Cải cách. Trong chiến dịch bí mật Diệt mầm loạn, nhổ cỏ dại, nội ngoại nhà bác có nhiều người mất tích bí ẩn hơn cả. Trong đó có:

Nhà văn Khải Hưng – Trần Dư, một trong ba lãnh tụ sáng lập nên Tự lực Văn đoàn;

Nhà cách mạng, nhà lý luận cách mạng, lãnh tụ Trotkit Tạ Thu Thâu. Ông bị Pháp bắt tù, đày ra Côn đảo. Khi cách mạng thành công ông được Pháp thả ra, nhưng trên đường về nhà bác bị Việt Minh bắn chết. Lãnh tụ Hò Văn Đản chính thức thừa nhận trường hợp thủ tiêu này khi ông ta đang ở trên đất Pháp bằng một tuyên bố sắt máu:

Tất cả những ai không theo con đường tôi vạch ra đều bị tiêu diệt.[2]

Cứ tưởng bác đi biệt tích như vậy là bác đã thoát chết.

Nào ngờ, ba năm sau, bỗng bác gặp một người bạn lên công tác tại miền Tây của nước Mynga.

Người bạn này nói:

“Hò Văn Đản sắp có chính sách sửa sai rồi, về xây dựng quê hương thôi”.

Chính tai bác cũng nghe loáng thoáng có chuyện sửa sai, nên nghe bạn nói vậy, bác tự tin theo bạn về Mynga. Nào ngờ, bác về Mynga hôm trước thì hôm sau Đội Cải cách xộc đến liền, bắt bác đem đi và ra thông báo tử hình bác ngay lập tức.

Bọn chổi rễ rất khóai trí khi bắt được bác.

Bác bị trói tay, trói chân đem ra đình để đám chổi rễ, Đội Cải cách chửi rủa, mắng nhiếc và đấm đá bác rất dã man, thậm tệ.

Chúng còn khúc khích với nhau rồi đồng lòng hô to lên:

“Thằng cha này sợ chết, phải cho nó chết từ từ để cho nó biết lễ độ, thế nào là sợ chết?”.

Vì vậy, sau khi chửi rủa, đấm đá bác mỏi mồm và đau tay, bọn Cải cách cho bác vào cái rọ lợn rồi đem dìm bác xuống ao. Bác bị dìm xuống ao từ trưa cho đến tối. Đến khi không thấy bác quậy cựa gì nữa, cái mặt bác ngửa lên trong rọ lợn thì chúng kéo rọ lên, tấp cả rọ, cả bác vào một góc vườn. Chúng nói với nhau, đợi sáng sớm ngày mai báo cho người nhà bác đến lấy xác đem chôn.

Nửa đêm hôm ấy, bác nằm trong rọ thấy nước gì nong nóng, khai khai và nồng nồng mùi rượu xối vào mặt bác. Bác không dám kêu, chỉ hé mắt ra nhìn, thì nhận ra thằng chổi rễ Lê Đỗ Hành của Đội Cải cách, trước đây là gia nhân của nhà bác, đang cầm chim đái vào mặt bác.

Có lẽ nhờ nước đái khai, nồng nồng mùi rượu của một nhân viên chổi rễ này mà bác tính hẳn lại.

Đợi cho nhân viên chổi rễ đi vào nhà, bác lần lần mở trói, mở nút buộc ở rọ ra, rồi lập cập chui ra khỏi rọ và trong đêm tối mịt mùng, bác lại lần mò rời Mynga một lần nữa.

Kể từ đó, chẳng còn ai thấy bác hiện diện ở nước Mynga nữa.

Nay, qua mươi năm biến cải, bỗng dưng lại thấy bác xuất hiện trở lại nước Mynga, vẫn với nghề thầy thuốc mà còn được bổ nhiệm chức trưởng khoa ở bệnh viện nước Mynga nữa.

Bác lại được hành nghề bác sĩ như xưa.

Nhưng vì bác xuất hiện trở lại nước Mynga, chỉ có hai cô con gái và một cậu con trai ở cùng, không thấy vợ bác đâu, nên bàn dân Mynga lại xì sầm kể về người vợ giỏi giang của bác.

Chả là khi bác chuồn đi rồi, vợ bác ở lại nhà và buộc phải thuận lòng trở thành vợ của một đày tớ cũng là chổi rễ sống trong nhà bác từ trước. Hắn có tên là Lê Đỗ Hành.

Chổi rễ Lê Đỗ Hành sống với vợ bác ngay trong nhà bác sau khi nhà của bác trở thành quả thực và Đội Cải cách lấy chia cho tay chổi rễ Lê Đỗ Hành.

Chính vì chổi rễ Lê Đỗ Hành được chia nhà của bác và ở  ngay tại nhà bác mà nhà bác không bị phá phách, không bị cách mạng lục soát nhiều.

Lấy được vợ bác Minh Quân, lần đầu tiên chổi rễ Lê Đỗ Hành được nếm mùi đàn bà.

Tuần trăng mật với vợ bác, thỉnh thoảng hàng xóm lại nghe chổi rể Lê Đỗ Hành hét toáng lên.

Có người đồng chí nghe được tiếng hét của chổi rễ Lê Đỗ Hành, hỏi vui:

“Đồng chí Hành, sung sướng mức nào mà hét to thế?”.

Chổi rễ Lê Đỗ Hành vui vẻ trả lời:

“Sướng như đi đào mả cha nhà đồng chí”.

Có người đồng chí lại hỏi:

“Đồng chí Hành, đụ nhau nằm hay ngồi, hay đứng mà hét to thế?”.

Chổi rễ Lê Đỗ Hành khúc kha khúc khích:

“Đứng. Làm như bò mới hét to được như vậy”.

Đây là những chuyện có thật còn lưu lại trong dân gian Mynga về những ngày trăng mật của tay đầy tớ, chổi rể Lê Đỗ Hành.

Từ sau ngày có vợ, chổi rể Lê Đỗ Hành tự nhiên trở nên ít nói và lầm lì cả ngày. Chẳng biết do chổi rễ ham làm chuyện ấy quá mức nên sức lực suy giảm đến mức chổi rễ trở nên lầm lì, ít nói hay chổi rễ thấy hạnh phúc quá đủ đầy mà trở nên ít nói và lầm lì như vậy?

Một thời gian sau nữa, người ta thấy má chổi rễ Lê Đỗ Hành hóp lại, hội họp ít nói đã đành mà bà con trong nước còn thấy chổi rễ hay ngủ gật. Chổi rễ Lê Đỗ Hành có vẻ ốm.

Bỗng một hôm, chổi rễ Lê Đỗ Hành chạy đôn, chạy đáo ra giữa đình làng, la toáng lên:

“Các đồng chí ơi! Các đồng chí ơi! Vợ tôi biến đâu mất rồi! Biến đâu mất rồi!”.

Gào xong chổi rễ Lê Đỗ Hành ngồi phịch xuống giữa đình làng, ôm mặt khóc tỉ ti.

Hò Văn Đản và đám đồng chí của ông ta cử người săn tìm vợ chổi rễ Hành khắp nơi, nhưng qua mấy ngày vừa tìm, vừa đợi, nước Mynga buộc phải ghi nhận, vợ của chổi rễ Lê Đỗ Hành đã biến đi đâu mất tăm. Chổi rễ Lê Đỗ Hành buồn và đau khổ lắm. Chổi rễ cứ nhớ và tiếc nữa.

Chổi rễ cứ than thở một mình:

“Cách mạng ân thưởng cho mình một cái lồn, mình sử dụng chẳng có gì sai, tự nhiên mình lại mất cái lồn”.

Lồn, đã không biết thì thôi, khi biết rồi mà bị mất, người ta dễ phát sinh tư tưởng tiêu cực, nhiều khi không còn muốn sống nữa. Chổi rễ Lê Đỗ Hành rơi vào tâm trạng này. Chổi rễ suốt ngày lầm bầm, suy ngược, nghĩ xuôi, chẳng biết làm cách chi để có thể có được một cái lồn trên giường để đêm đêm chổi rễ được sờ soạng, hú hí.

Bỗng một hôm, đầu óc chổi rễ Hành tự nhiên phát sáng lên khi chổi rễ nhớ đến lời nói của lãnh tụ Hò Văn Đản:

Cách mạng là vô địch,

không có gì là không biết,

không có gì là không làm được.

Vì nhớ như thế nên chổi rễ Lê Đỗ Hành quyết một lần nữa nhờ cách mạng tìm cho chổi rễ một cái lồn khác.

Chổi rễ lại tìm đến Đội Cải cách, mò đến Hò Văn Đản, rồi lên tiếng bắt đền Đội Cải cách, bắt đến Hò Văn Đản:

“Thưa các đồng chí. Tôi phận nghèo ba đời bần cố, nhờ cách mạng mà có được cái lồn riêng. Nay không biết vì sao lại mất. Tôi cúi đầu xin cách mạng và các đồng chí kiếm và phân phối cho tôi một cái lồn khác”.

Đội Cải cách thấy chổi rễ Hành rên rỉ thiết tha quá, bèn hứa với chổi rễ:

“Thư thư để nước, để Đội sẽ tìm cho đồng chí một cái khác”.

Ở nước Mynga, không riêng gì chổi rễ Lê Đỗ Hành mà có một số người cũng ở hoàn cảnh như chổi rễ Lê Đỗ Hành được cách mạng ân sủng chia quả thực cho nhà cửa, của cải và kèm một cô vợ. Các cô vợ kiếm này, chủ yếu là bọn đầy tớ, gia nhân trong nhà địa chủ, tư sản. Các ông chủ này, vì sợ Cải cách mà phải vội vàng bỏ của chạy lấy người, có khi bỏ cả vợ con cùng gia nhân, đày tớ ở lại.

Trường hợp vợ bác Minh Quân lấy chổi rễ Lê Đỗ Hành là một ví dụ.

*

Chổi rễ Lê Đỗ Hành bình sinh là một người hiền lành.

Bố chổi rễ Hành cũng là người hiền lành.

Cả bố lẫn con đều là thân phận đày tớ.

Cả bố lẫn con đều là người lam làm, chịu khó, chịu khổ.

Trong làng, nhà nào có việc nhờ đến bố con nhà chổi rễ Hành, bố con chổi rễ Hành đều vui vẻ nhận làm. Từ giết trâu, bò, lợn, gà, đến cày bừa, cấy hái, nhổ mạ, gánh phân, bố con chổi rễ Hành đều thạo việc và làm hùng hục như trâu húc mả[3] hay miệt mài như một khúc gỗ tròn chỉ biết lăn.

Bố chổi rễ Hành thời trước lấy được vợ, cũng là nhờ gia chủ tác thành cho, mà gia chủ là cha đẻ ra bác Minh Quân. Vợ của bố chổi rễ Hành cũng là đày tớ sinh sống ở nhà một địa chủ khác.

Khi cha bác Minh Quân hỏi bố chổi rễ Hành: “Có ưng thuận lấy cô ấy không?”,  bố chổi rễ Hành chẳng đỏ mặt, thêm bớt gì, đồng ý ngay.

Tháng Tám năm một chín năm mốt, không khí đấu tranh chính trị dâng cao ở nước Mynga thì một buổi sáng tháng Tám, người trong nước thấy bố chổi rễ Hành chết trong tư thế  treo cổ lủng lẳng trên xà nhà.

Chẳng biết bố chổi rể Hành có phải vì đói mà treo cổ tự tử hay vì một lý do nào khác?.

Có người kể, hôm trước có tay địa chủ, cha đẻ ra bác Minh Quân, đến nhà, mang theo rượu và uống với bố chổi rể Hành rồi thì thầm vào tai bố chổi rể Hành:

“Con chết được rồi. Mình là đàn ông, gieo giống vào phụ nữ, đã có con kế thừa. Con mình, tức là mình, làm nghĩa vụ đàn ông như thế là xong. Chết được rồi! Con cứ cơm no,  rượu say rồi tự treo cổ mà chết, chả hơn chịu đói nhiều ngày, thân xác bị hành hạ rồi mới chết. Tang gia đưa đám bố lo cho tất. Yên tâm”.

Thế là sáng hôm sau người dân My nga thấy bố chổi rễ Hành lủng lẳng trên xà nhà. Bố chổi rễ Hành đã tự treo cổ mà chết. Lạ.

Lạ hơn nữa, cái lưỡi của bố chổi rễ Hành thò ra, cứng đơ.

Những người liệm xác làm cách chi cũng không đẩy cái lưỡi của bố chổi rễ Hành vào trong cái miệng của bố chổi rể” Hành được, vì cái miệng của bố chổi rể Hành nhất định không chịu ngậm lại.

Người dân Mynga bình phẩm, bố chổi rể Hành sống hiền lành cả một đời, khi chết bố chổi rễ Hành muốn gửi lại một thông điệp chi đây cho nước Mynga ta đó.

Mãi sau này cả nước Mynga mới té ngửa ra[4], cái chết của bố chổi rễ Hành là do cha bác Minh Quân ép phải chết. Cha bác  Minh Quân muốn bố chổi rễ Hành chết là nhằm bịt đầu mối về chỗ cất giấu của cải của nhà bác ấy mà bố chổi rễ Hành hẳn là người biết rõ. Cái mồm há ra và cái lưỡi không chịu nằm chết ở trong miệng mà khăng khăng thò ra ngoài là cái lưỡi bố chổi rể Hành muốn nói lên một sự thật nào đó?

Bà con đến chia buồn, thấy mắt chổi rễ Hành đỏ hoe.

Có người đồng chí hỏi chổi rễ Hành:

“Đồng chí, cụ ra đi như thế nào?”

Chổi rễ Hành cũng chỉ tặc lưỡi.

Chổi rễ Hành không dám nói ra, vì chổi rễ Hành nghĩ:

“Trả lời cha mình thắt cổ mà chết, có khác chi phê phán cụ, bôi xấu mình”.

Nhưng chổi rễ Hành có chút lăn tăn trong đầu, làm con để cha phải thắt cổ mà chết là bất hiếu, nhẫn tâm. Nhưng biết làm sao được! Sống chết là quyền của mỗi người. Cụ cũng đã cập kề năm mươi tuổi rồi! Hơn nữa, cụ ốm đau luôn, thuốc thang không có tiền mua, cơm gạo không đủ rau cháo, sống lâu chỉ thêm khổ. Phận đày tớ ba đời không gợi cho chổi rễ Hành nhưng suy tư: Tại sao bố mình lại không có tiền để mua thuốc, mua thang? Không có cơm, có gạo để bồi bổ sức khoẻ? Và tại sao chỉ vì uống rượu với gia chủ là địa chủ mà bố mình lại tự mình treo cổ mình lên để chết?”.

Không truy tìm nguyên nhân và thủ phạm ép bố mình phải chết lại là cái phúc của chổi rễ Hành. Chính vì vậy mà chổi rễ Hành không những không tốn phí đồng bạc nào cho tang gia lại nghiễm nhiên được thay cha làm đày tớ cho nhà bác Minh Quân, và phúc hơn nữa, chổi rễ Hành còn lấy được vợ bác Minh Quân.

*

Cũng như nghiễm nhiên trở thành đầy tớ trong nhà bác Minh Quân, trong kỳ Cải cách, đấu tố, chổi rễ Hành cũng nghiễm nhiên trở thành nhân cốt cách mạng. Cuộc đấu tố, hội họp nào chổi rễ Hành cũng có mặt với tinh thần đấu tranh hăng hái nhất. Đội Cải cách bảo đấu thế nào, chổi rễ Hành học thuộc lòng và cứ y thế mà đấu.

Khi Đội Cải cách xong việc rút đi, chính quyền cách mạng đốc thúc nhân dân tự nguyện ghi danh vào hợp tác xã, chổi rễ Hành là người hăng hái ghi danh đầu tiên. Khi hợp tác xã lên kế hoạch, tổ chức sản xuất chổi rễ Hành làm lụng tích cực lắm. Chẳng việc nào cán bộ phân công, chổi rễ Hành lại không làm.

Ông đội trưởng đội sản xuất bảo, “bừa ruộng này phải đến mười hai giờ trưa mới được”, “đổ phân xuống ruộng này phải mươi, mười hai gánh mới đủ”… chổi rễ Hành cứ thế cắm cúi, y trang mà làm, hăng hái, cần cù, hiền ngoan như một con trâu, con bò hay một khúc gỗ tròn lăn.

Khi chiến tranh phá hoại của Mỹ lan ra nước Mynga, nhằm củng cố chính quyền cách mạng, xét thành tích trong Cải cách, trong đấu tranh giai cấp, trong phong trào hợp tác xã, Lê Đỗ Hành được Hò Văn Đản tin tưởng giao cho chức chủ tịch mặt trận nước Mynga và được Hò Văn Đản tặng thêm cho họ Hò, họ của cha già, họ của cách mạng vào trước họ Lê của Đỗ Hành thành Hò Lê Đỗ Hành.

Hò Lê Đỗ Hành sung sướng với cái họ mới này của mình lắm,

Hò Văn Đản còn khích lệ Hò Lê Đỗ Hành:

“Đồng chí Hành này, đồng chí có nhận ra ở nước ta bây giờ ai mới là người to quyền nhất nước không?”.

Hò Lê Đỗ Hành:

“Bác là người to nhất nước chứ còn ai nữa?”.

Hò Văn Đản mở miệng cười vang, tay chỉ chỉ vào ngực mình:

“Tôi? Không phải đâu. Đồng chí mới là người to nhất nước. Tôi, Chủ tịch kiêm Tổng bí thư chỉ đứng đầu có chưa đến một triệu con người, còn đồng chí đứng đầu cả mấy chục triệu con người?”.

Hò Lê Đỗ Hành trợn tròn mắt ngạc nhiên:

“Tôi đứng đầu cả mấy chục triệu người?”.

“Đúng. Đồng chí cứ thử tính xem, có con người nào lại không ở trong mặt trận của đồng chí. Thanh niên này, phụ nữ này, nông dân này, công nhân này, cán bộ này, trí thức này,… tất tần tật đều là thành viên trong mặt trận của đồng chí. Đứng đầu một tổ chức đông quân gấp mấy lần quân của tôi, không to hơn thì nó là cái gì?”.

Hò Lê Đỗ Hành thấy có gì đó không đúng nhưng không biết thưa lại Hò Văn Đản thế nào, đành cúi đầu xuống mà sung sướng trong tiếng cười sảng khoái vang vọng của Hò Văn Đản.

Khi chổi rễ Hành trở thành ông chủ tịch mặt trận nước Mynga, nhiều cô cán bộ cỡ muốn lấy ông Chủ tịch, nhưng rồi ông chổi rễ, Chủ tịch Hành lại chọn một cô gái thuộc thành thần chổi rễ, có dăm ba chữ Quốc ngữ qua lớp Bình dân học vụ và có bản tính hiền lành như củ khoai, củ sắn như chổi rễ Hành. Người vợ này cũng do chính Hò Văn Đản gợi ý rồi mối manh cho.

Trọng trách đầu tiên mà ông chủ tịch mặt trận nước Mynga thực hành là được Hò Văn Đản giao cho một số tiền lớn của dân đóng góp, rồi cầm đầu một phái đoàn cán bộ nước Mynga hành quân lên mạn ngược mua bò đem về nước Mynga để cùng người Mynga tiến hành xây dựng nông thôn mới, nông thôn Xã nghĩa.

Hò Lê Đỗ Hành đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này. Cả đảng, cả nước Mynga đều hài lòng về Hò Lê Đỗ Hành. Ông không những mua được bò mà tiền của dân đóng góp Hò Lê Đỗ Hành cũng không xà xẻo cho riêng tư một đồng, một cắc nào.

Có chức vụ quan trọng Hò Lê Đỗ Hành vững tin vào chế độ mới, đặc biệt tin tưởng vào Hò Văn Đản. Và để không phụ sự tin cậy của Hò Văn Đản, Chủ tịch mặt trận nước Mynga Hò Lê Đỗ Hành trở thành cánh tay đắc lực cho Hò Văn Đản trong trị quốc an dân, trong đấu tranh giai cấp, trong kháng chiến chống Pháp, chỗng Mỹ, chống Khơ me đỏ, chống bành trướng Bắc Kinh.

Vụ bắt giam, tử hình bất kỳ một ai ở nước Mynga đều có lực lượng của mặt trận tham gia.

Chính nhờ có mặt trận mà Hò Văn Đản mới phát hiện ra bác Hà Độ trước đây là đảng viên đảng dân chủ, bác Minh Quân là đảng viên đảng xã hội.

Đặc biệt mặt trận luôn là cái đầu tầu, là cái loa to mồm nhất lôi kéo, cổ vũ cho mọi phong trào lao động, chiến đấu ở nước Mynga, đặc biệt là phong trào tòng quân đánh giặc: Quân không thiếu một người, thóc không thiếu một cân.

Nhờ có thành tích như vậy mà gia đình ông chổi rễ, Chủ tịch Hành được được Hò Văn Đản khen ngợi, được nhà nước của ông ta phong tặng cho danh hiệu: Gia đình hạnh phục, gương mẫu và cấp cho cái giấy chứng nhận:“Gia đình văn hóa”[5].

Những đứa con của vợ chồng ông chổi rễ, Chủ tịch Hành cũng được cấp phiếu: Cháu ngoan bác Hò.

Lần hồi qua thời gian Hò Lê Đỗ Hành trở thành một người nổi bật trong mắt cán bộ và trong dân nước. Không ở đâu có phong trào mà lại thiếu vắng bóng hình Hò Lê Đỗ Hành cùng những lời giao giảng.

Có một sự lột xác cách mạng vĩ đại cho con người ba đời đày tớ bần hàn này.

Từ một người mù chữ, Hò Lê Đỗ Hành trở thành người đọc thông viết thạo và còn trở thành nhà lý luận công nông vĩ đại của nước Mynga.

Từ một người cứ thấy địa chủ, cường quyền là run rẩy, sợ hải trở thành người có quyền uy ăn to, nói lớn, có quyền trấn áp, thủ tiêu người.

Thành tích vì dân, vì nước của Hò Lê Đỗ Hành cũng dày cộm như bất kỳ một nhà lãnh đạo gạo cội nào của nước Mynga Xã nghĩa.

Dân nước Mynga chẳng thể quên những bài thuyết giảng của ông ta về đảng, nhà nước, về dân, về tính hơn hẳn của chế độ Xã nghĩa so với phần còn lại của thế giới.

Chẳng hạn khi giáo dục về đảng cho thanh thiêu niên, ông ta dạy:

“Lãnh tụ đảng ta, đảng ta thực sự là cha mẹ dân chứ không phải cái thứ phụ mẫu tri dân như thời phong kiến, đế quốc. Tại sao lại phải hiểu như vậy? Vì đảng ta sinh những năm một chín ba mươi, tính tuổi thông thường nay cũng đã là tuổi cha, tuổi ông của các cháu ngồi đây cả rồi. Đó là cái lý không ai có thể cải. Mà đã là cha mẹ thì ai ai cũng phải thương con. Nhưng, đảng ta, bác ta còn thương dân, thương các cháu nhi đồng đây còn hơn cả cha mẹ thương con. Nước ta bây giờ là nước độc lập, tự do. Vây, ai đem điều đó cho dân, cho các cháu ta đây. Đảng, bác chứ còn ai nữa. Sống trên đời không phải cơm ăn, áo mặc, vợ con, ruộng vườn, nhà cao, cửa rộng, tiền của là quý nhất đâu mà độc lập tự do mới là thứ quý nhất; lãnh tụ đảng ta đã khẳng định không có gì quý hơn độc lập tự do kia mà. Ai đem điều này cho dân? Đảng ta. Đảng ta, lãnh tụ đảng ta đã đem những điều vĩ đại lớn lao này cho dân mà không có bậc làm cha làm mẹ nào có thể làm được. Như thế đảng ta không là trời rộng, không là biển sâu thì là cái gì? Đúng không các cháu?”.

Các cháu thanh niên nước Mynga đồng tình vỗ tay rầm rầm.

“Còn tại sao đảng ta lại xác định chỉ có đấu tranh con người mới trưởng thành, xã hội mới phát triển được? Bởi vì đó là quy luật phát triển từ cổ đến nay. Bác xin kể một câu chuyện mà chính bác đã nghiệm ra chứng minh cho quy luật then chốt này.

Ấy là một lần bác ốm sau khi bác lên miền ngược mua trâu bò về cho đất nước. Bác bị nằm liệt trên giường nên cứ nghĩ vẩn vơ. Chợt một hôm bác nghe bên hàng xóm, tiếng con lợn bị chọc tiết kêu èng ẹc riết dóng, căm phẫn người giết nó, vang vào tai. Não bộ của bác chợt bừng sáng lên, có lẽ con lợn đã cất lên tiếng chửi những kẻ rắp tâm giết nó với một thái độ căm phẫn? Tiếng kêu của con lợn bị giết làm khinh động dân nước.

Rồi từ lợn kêu, bác lại thấy một con gà mái từ trong ổ trứng dưới bếp bay qua mặt bác, nhào ra vườn, miệng cũng quang quắc rất dữ tợn, như là chửi:

“Con lợn ngu si kia, đã chết rồi thì im cái mồm đi, kêu rên làm gì, ảnh hưởng đến thế hệ tương lai của bà đây”. Tiếng gà quang quắc cũng làm khinh động dân nước.

Sau tiếng gà, bác lại thấy, con chó từ gầm giường lao ra, chồm lên qua mặt bác, rồi nhảy phốc xuống vườn, cất tiếng gâu, gâu, hùng dũng đuổi theo con gà đang há toác cái mồm ra chửi con lợn sắp chết.

Con gà sợ bị chó đớp bay ào lên cành cây cao và đậu ở trên đó.

Con chó tức quá, mắt, mõm hướng lên con gà, rồi loanh quanh dưới gốc cây, lúc thì í ẳng; lúc thì sồn sột cào cào bới bới loạn xạ quanh gốc cây; lúc thì gâu, gâu, ủng ẳng, như muốn gửi thông điệp cho gà: “Tao sẽ giết mày. Cục ta cục tác cái gì? Mày dám phóng thanh cho cả nước biết à? Cục ta, là cái món khoái khẩu của tao; cục tác là cái món tao đang để dành. Mày dám to mồm để lộ cái bí mật của họ nhà tao ra à?

Các cháu thấy không, đó là chân lý của cuộc sống đấy. Chân lý đó là gì? Đó là chân lý vạn vật thích ăn thịt nhau, hay nói một cách văn hoá là cái này dựa vào cái kia để tồn tại. Cái này chết đi là điều kiện cho cái kia phát sinh phát triển. Nó là một vòng luân hồi của các kiếp động vật mà bấy lây nay mọi người tuy vẫn ngày ngày sống chung với nó nhưng lại không nhận ra. Chỉ đến thời Mác- Anghen, Le nin, Stalin và đặc biệt là lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông với nhân sinh quan Cộng sản lấy Biện chứngKhách quan làm phương pháp luận mới có thể nhận ra và đúc rút nó thành lý luận. Vĩ đại, tài tình chứ các cháu? Nếu không bị giết thì con lợn kêu lên riết róng mà làm gì? Nếu không có chó thì con gà làm sao luyện được cánh bay, phải không các cháu?”.

Đúng quá. Các cháu thấy bác Hò Lê Đỗ Hành nói hay quá đồng loạt vỗ tay rầm rầm.

“Đó cũng là lý do để sau khi đảng ta giành được chính quyền đã liên tục tổ chức lực lượng trấn áp các phần tử phản động, liên tục tiến hành chiến tranh, hết đánh Pháp chín năm, tiếp theo đánh Mỹ hai mươi năm, rồi sau đó lại đánh khơ me đỏ. Nhờ có các cuộc đấu tranh này mà nhân dân ta trưởng thành, cách mạng không ngừng lớn mạnh, từ đó mà dân tộc ta trở thành dân tộc anh hùng, anh hùng của chúng ta nhiều đến mức ra ngõ cũng gặp anh hùng[6] làm cả thế giới phải kinh ngạc, kính trọng, khiếp sợ. Bác có thể đúc kết bắng mấy câu thơ như thế này:

 Dân ta gan dạ anh hùng

Trẻ làm đuốc sông già xông lửa đồn[7].

Ai đang đọc thơ hay ta đang ngân nga,

ai đang hát hay lòng ta đang hát.

Mùa xuân đất nước,

thênh thang đường lớn ta đi[8].

Nhân dân lại đồng tình vỗ tay hoan nghênh rầm rầm.

Uy tín của chổi rễ, Chủ tịch Hò Lê Đỗ Hành cứ theo từng nấc thang cách mạng mà được xác lập, cứ theo từng nấc thang cách mạng mà trở nên nổi tiếng. Tiếng tăm Hò Lê Đỗ Hành còn vang dội hơn khi ông ta thể hiện bản tính hài hài hước vui nhộn, biến những điều phức tạp trong lý luận Mác xít thành những điều đơn giản dễ hiểu trong cuộc sống công chúng mà ngươi dân ai cũng nhớ, cũng kể.

Ấy là một lần tham dự đại hội phụ nữ toàn quốc, khi hội phụ nữ kêu thân phận phụ nữ trong nước còn bị xã hội phân biệt đối xử chưa được coi trọng ngang hàng bình quyền, bình đẵng như nam giới, Hò Văn Đản thay mặt chủ tịch đoàn phát biểu vừa ghi nhận khuyết điểm của chính quyền, của giới mày râu, vừa động viên giới phụ nữ.

“Thưa các chị em phụ nữ, lãnh đạo nước Mynga nhận thấy cái mà chị em phụ nữ vạch ra là một lổ hổng lớn, các đấng nam nhi đầy khí…khái của nước Mynga có nghĩa vụ, trách nhiệm lấp đầy. Toàn chị em nước Mỹnga hãy vững lòng yên tâm mà tiến lên”.

Đúng quá! Hội trường đại hội phụ nữ vỗ tay rầm rầm.

Dân Mynga cũng chẳng thể nào quên hình ảnh lãnh tụ Hò Lê Đỗ Hành thường xuyên đi sâu, đi sát phong trào, đặc biệt là phong trào: “Lúa cần phân như dân cần Đảng”[9] của chế độ Xã nghĩa Hò Văn Đản. Hò Lê Đỗ Hành không những là người trực tiếp tổ chức nên các đoàn thể hội đoàn, tổ đội, Đoàn Thanh, Thiếu niên… mà còn cầm đầu công cuộc vận động học tập, làm theo; còn là một trí tuệ đầu đàn, sáng tác Văn học Nghệ thuật theo phương pháp Hiện thực Xã nghĩa lấy Công – Nông làm đối tượng, vừa phản ánh vừa phục vụ. Hò Lê Đỗ Hành nổi lên, trở thành ngôi sao số một trong lòng quân chúng Công- Nông, đặc biệt ở phong trào Văn, Thơ cổ vũ toàn dân làm phân bón, làm hố xí hai ngăn, chẳng hạn:

“Hòa Bình lập lại quê ta

Nhân dân với Đảng kết duyên Châu Trần”.

“Anh không tham bạc, tham vàng

Chỉ tham nhà nàng có hố xi hai ngăn”.

“Thanh niên Ngamí xin thề

Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương”.

Văn, Thơ của Hò Lê Đỗ Hành sáng tác tựa như nghị quyết của Đảng, rất nhanh chóng thâm nhập sâu vào đời sống quần chúng nhân dân. Chả có thanh niên, cán bộ nào không thuộc, không biết đem thơ Hò Lê Đỗ Hành ứng dụng vào đời sống. Trên công trường sôi động hay dưới trăng non hẹn hò, Văn, Thơ của Hò Lê Đỗ Hành luôn luôn vang lên.

Một người xướng lên:

– “Hòa Bình lập lại quê ta”.

Một tốp phụ họa ngay:

+ “Hò lơ ớ lơ”

Thanh niên xướng tiếp:

– “Nhân dân với Đảng”.

Một tốp phụ họa:

+ “Ai đi hò lơ”.

Thanh niên xướng tiếp:

– “ Kết duyên Châu Trần”.

Tất cả cùng hòa thanh:

+ “Hò lơ ớ lơ, lắng tai nghe tiếng ai hò lơ, hò lờ”.

Hay như:

– “Thanh niên Ngamí xin thề”.

+ “Ai đi hò lờ”.

– “Chưa đầy hai sọt”.

+ “Hò lơ ớ lơ”.

– “Chưa về này quê hương.”.

+ “ Hò lơ ớ lơ. Lắng tai nghe tiếng ai hò lơ, hò lờ”.

Một phong trào thơ ca vĩ đại bởi đề tài là đời sống thân thuộc, rất Biện chứng, rất Khách quan nên nó nhanh chóng được phổ biến, nhanh chóng xâm nhập vào Đất vào Nước vào lục phủ ngũ tạng của tất cả dân Mynga. Cả Đất Nước, cả Dân tộc, không chỉ “hò lơ lớ lơ” trên đồng ruộng, công trường mà “hò lơ, lớ lơ” như dòng thác lũ tràn vào cả đám cưới, họp hành, và đặc biệt trong các lễ phát động phong trào thi đua sản xuất, phong trào làm hố xí hai ngăn, phong trào tòng quân nhập ngũ, phong trào đi Thanh niên xung phong, phong trào đi Dân công hỏa tuyến…

Ở đám cưới, có đám nào mà không hò vang “ới lơ, lới lơ”:

– “Anh không tham bạc, tham vàng”.

+ “Hò lơ ớ lơ”.

– “Chỉ tham nhà nàng”.

+ “Ai đi hò lờ”.

– “có hố xí hai ngăn”.

+ Hò lơ ớ lơ. Lắng tai nghe tiếng ai hò lơ, hò lờ”.

Có một lần tôi hỏi Hò Lê Đỗ Hành:

“Thưa chú. Chú có bí quyết gì mà cứ hễ chú ra tác phẩm văn học nào là cả nước nhập tâm và rầm rầm hò hát ngay tắp lự?”.

Hò Lê Đỗ Hành tủm tĩn cười, rồi thủng thẳng:

“Nó bí quyết ở cái chữ L, chữ Đ. Dân mình sướng L, sướng Đ. Lại có truyền thống văn hóa L, Đ: Làm L Đ,  Ăn L Đ, Ngủ L Đ. Nó là cái ngôn ngữ bất khả biến ở Đạị Việt ta từ xưa tới nay. Sáng tác văn chương nghệ thuật ở xứ mình mà không nắm vững, không gắn L, Đ vào đó thì coi như tác phẩm hỏng, thất bại, coi như chưa nằm lòng bài dạy của cha già Hò Văn Đản:“Viết cái gì, viết cho ai, viết như thế nào?”[10]. Bí quyết tất cả ở cái chỗ L,Đ ấy thôi”.

Những bài nói chuyện, những tác phẩm văn chương nghệ thuật của Hò Lê Đỗ Hành được các nhà xuất bản trong nước tập hợp thành các tập sách, đánh số 1,2,3,… thi nhau in ấn, phát hành ở mọi lúc, mọi nơi trong cả nước.

Thật là một tài năng lỗi lạc. Không hổ danh là nhà Văn, nhà Thơ, nhà… đầu đàn; nhà lý luận cách mạng số một của nước Mỹ nga Xã nghĩa.

 

*

Đến cuối những năm Một chín tám mươi, cả nước Mynga đói. Hò Lê Đỗ Hành được Hò Văn Đản cử ra nước ngoài mua gạo cứu đói cho dân. Hò Lê Đỗ Hành đã mua được lương thực nhưng lại không đem về ngay mà ông ta đem bán số lương thực đó cho các nước lân cận kiếm được ít tiền lãi rồi dùng cả vốn lẫn lãi đó tiếp tục đi mua lương thực. Chính vì sáng kiến này mà phát sinh sự kiện cả nước Mynga đợi lệnh kẻng của chính quyền cùng túa ra đồng bứt lá rau khoai lang cứu đói.

Sau sáng kiến này chổi rể, Chủ tịch mặt trận Hò Lê Đỗ Hành bị phê bình, kiểm điểm, tạm nghỉ công tác. Chổi rế, chủ tịch có buồn không? Không. Chổi rể không buồn mà chỉ phàn nàn với thuộc cấp:

“Tớ sức khỏe còn tốt, mỗi bữa vẫn đánh gọn ba bát cơm, rượi xúc miệng còn được vài cốc, đụ đị chưa đến nỗi nào, một ngày vẫn đều đều thực hiện bốn giao: sáng giao ban, trưa giao ca, tối dao thớt, đêm giao cấu. Nghỉ công tác, mình chẳng mất gì, chỉ thiệt là thiệt cho cách mạng thôi”.

Nhờ tạm nghỉ công tác mà chổi rễ Hò Lê Đỗ Hành có thời gian học tập nghiên cứu sâu về những bài nói, những tác phẩm của lãnh tụ Hò Văn Đản.

Có lần chổi rể tâm sự với thuộc cấp:

“Nâng cao đạo đức làm người, quét sạch chủ nghĩa làm người là một tác phẩm lý luận lớn của lãnh tụ Hò Văn Đản, nhưng viết như vậy là chưa hết ý, chưa triệt để, chưa đi đến tận cùng nội tâm của con người. Con người là cá nhân cụ thể, ông ta đặt vấn đề phải quét sạch cái chủ nghĩa cá nhân, tức đặt vấn đề tiêu diệt con người. Con người đã bị tiêu diệt thì còn đâu là cá nhân con người hay chủ nghĩa về cá nhân con người nữa mà nâng cao đạo đức, mà quét sạch chủ nghĩa của nó đi. Tớ phải bổ xung cho cụ bằng học thuyết êm đềm nhẹ nhàng và thấm sâu hơn: Tớ vì mọi người, Mọi người vì tớ”.

Rồi trong những lúc trà dư tửu hậu với thuộc cấp trong chuyến đi mua gạo cứu đói, chổi rể, Chủ tịch Hò Lê Đỗ Hành cao hứng lên nói với thuộc cấp rằng, ông ta cũng là một lãnh tụ, có nhiều công tích đóng góp cho chế độ mới; cho rằng, chính chổi rể mới là tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời trước sau như một chứ không phải ai khác ở nước My nga cách mạng này.

“Các đồng chí, tớ đây: đối với mẹ cha thì một lòng kính trọng, không dám cãi một lời;  với anh em thì nhường trên sẻ dưới, không bao giờ dám tranh phần hơn; với bạn bè thì tứ hải giai huynh đệ, không dám phê bình nửa câu; với vợ chồng thì đầu gối tay ấp, tình sâu mặn nồng, lấy ai là chung thủy, một lòng với người đó, chứ không như Hò Văn Đản vợ nọ, con kia.

Còn với nhiệm của vụ cách mạng thì tớ luôn luôn mẫn cán, một lòng tuân lệnh, phục tùng cấp trên.

Tổ chức đất nước bảo lên làm chủ tịch thì lên.

Tổ chức đất nước bảo lấy cô này làm vợ thì lấy.

Tổ chức đất nước bảo bưng bê, khuân vác, cày bừa, cấy hái thì bưng bê, cấy hái, cày bừa.

Tổ chức đất nước bảo cổ động, hò hét thanh niên tòng quân nhập ngũ thì hăng hái cổ động, hò hét thanh niên tòng quân nhập ngũ.

Tổ chức đất nước bảo soạn nghị quyết, ra chỉ thị, thuyết giảng đường lối thì soạn thảo nghị quyết, ra chỉ thị, thuyết giảng đường lối khắp nơi.

Tổ chức đất nước bảo bỏ tù, giết người, tiêu diệt trí thức, tiêu diệt tư sản, tiêu diệt phần tử đối lập, tớ cũng chẳng từ nan. Ở môi trường hoạt động nào, tớ cũng là tấm gương sáng tận tụy, gương mẫu tớ vì mọi người. Ngày Cải cách tớ tố người này, đấu người kia, bắt tù người này, bắn bỏ người kia, tớ hăng hái, tiên phong, đầu tầu cũng là vì muốn làm gương cho mọi người học theo, làm theo. Tớ chính là tay đắc lực số một thực thi bắn bỏ tầng lớp trí phú địa hào. Tiếng súng giết người của tớ nghe cứ lốp cốp như ngô rang trộn cát. Tớ chẳng ngại gì cả.

Công việc nào tớ cũng thành công chói loại, không như đám Phạm Vương, Minh Quân, Hà Độ, trí thức, anh hùng gì mà cả đời bị chính quyền hành hạ đến có cái quyền sống cho riêng mình cũng không được.

Tính thành tích chi li ở nước Mynga khó ai có thể hơn tớ. Thế mà tại sao dân Mynga chưa tung hô tớ: người vĩ đại nhất, sống có đạo lý nhất, thương người, quên mình nhất – Chăm lo tất cả chỉ quên mình – như tung hô lãnh tụ Hò Văn Đản?”.

Chổi rễ  không ngờ rằng, những tâm sự như những lời tuyên bố này của chổi rể  với bạn bè, thuộc cấp đều có đường riêng lọt đến tai Hò Văn Đản. Đó là lý do chính để Hò Lê Đỗ Hành bị Hò Văn Đản cho nghỉ công tác, tập trung vào kiểm điểm phê bình.

Trong lúc nghỉ công tác, tập trung vào kiểm điểm phê bình thì một ngày người dân bỗng thấy bốn, năm cán bộ thuộc cấp của Hò Lê Đỗ Hành cùng khênh một cái cáng thương chạy thục mạng về phía bệnh viện nước Mynga. Trên cáng thương có một người đàn ông già nằm trên bụng một cô gái trẻ.

Hai hôm sau trên loa đài nước Mynga ầm ầm vang lên tin buồn cáo phó: “Nhà cách mạng tiền bối Hò Lê Đỗ Hành đã vĩnh biệt chúng ta sau một tai nạn bất khả kháng trong một chuyến đi công tác cách mạng. Đồng chí mất đi là một mất mát lớn lao của đảng ta, nhân dân ta. Tang lễ đồng chí được cử hành trọng thể theo nghi thức lễ tang nhà nước. Quốc tang thương tiếc đồng chí, các cơ quan, trường học đồng loạt treo cờ rủ, cả nước để tang ba ngày”.

Vọng:

Bác Minh Quân trong hầm mộ dường như cố đứng thẳng người lên, làm đất ở mộ bác rung rung như muốn nứt toác ra. Bác khùng khùng ho rồi nhổ ra một cục đờm tướng. Bác gào lên trong giận dữ:

“Lừa đảo. Bọn lừa đảo. Cách mạng, chuyến đi công tác cách mạng nào? Hắn cậy chức cậy quyền thông dâm với cô ý tá quá đà mà bị bất đắc kỳ tử ngay trên bụng cô ta, chứ công tác, cách mạng gì hắn. Hắn cả đời chỉ thích đụ. Ông trời cũng chiều nó cho nó được chết ngay trong lúc cuộc đụ thăng hoa cao trào.

Hắn ba đời ngu xi dốt nát. Binh sinh hắn chỉ là con số O tròn chỉnh. Hắn nhờ Hò Văn Đản nhào nặn, nhờ thời cuộc Bọt bèo thì nổi/ Phù sa thì chìm[11] mà hắn thành ông, thành chủ tịch, thành ngươi nổi tiếng. Khi thấy đi đâu hắn cũng được cấp dưới đón tiếp long trọng, tung hô rầm rầm hắn cứ tưởng hắn là một người vĩ đại.

Thằng cháu. Khi hắn chết, giống như cha hắn, miệng của hắn cũng há hốc ra, lưỡi cũng thè lè ra như muốn nói điều gì mà khi còn sống hắn cứ phải câm miệng”.

“Vâng, cháu biết rồi. Ông ta không ngậm mồm lại được là ông ta muốn di huấn lại cho đời rằng, ông ta là cái loa chứa đựng nước bọt của chính quyền, là tay sai mẫm cán của chính quyền. Mà đã là cái loa, là tay sai mà lại dương dương tự đắc muốn làm lãnh tụ, làm người vĩ đại như Hò Văn Đản. Ông ta bất đắc kỳ tử mà vẫn không nhận ra rằng, cạnh tranh tài danh với Hò Văn Đản chỉ có còn phải chết.

Chết mà không ngậm mồm lại được là ông ta đã bị trời hành quả báo tội nói láo, tội tuyên truyền, cổ vũ cho cái ác, tội huy động lực lượng thực thi những điều ác, tàn sát con người, phá hoại đất nước.

Nhưng phúc nhà ông ta vẫn còn các ông ạ. Mộ của ông ta thuộc một trong mười một cái mộ được nằm sau đít mộ của Hò Văn Đản trong khu sinh phần Cò hồn Xã nghĩa Mynga đấy”.

Tôi nghe âm thanh xì nước ối mũi của bốn ông vang lên.

 

[1] Luận điểm tuyên truyền của Cộng sản Việt Nam.

[2]  Thái Dõan Hiểu: “Những cái chết tức tưởi của nhà văn”.

[3] Tục ngữ Việt Nam.

[4] Tục ngữ Việt Nam.

[5] Giấy chứng nhận do nhà nước Cộng sản cấp.

[6] Tuyên bố tự sướng của Cộng sản Việt Nam.

[7] Thơ của nhà thơ Tố Hữu.

[8] Thơ của Vũ Văn Hiền.

[9] Khẩu hiệu của ĐCSVN.

[10] Lời ông Hồ Chí Minh dạy văn nghệ sĩ.

[11] Văn nghệ dân gian

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: