Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 65.

Phạm Thành

Kính bạn đọc.

Có lẽ các bạn đã mất nhiều thời gian và cả công sức nữa để theo đọc Cò hồn Xã nghĩa. Tin vui cho các bạn đây. Tiểu thuyết đã đi sát nút phần cuối cùng. Thời gian đăng tải nó sắp kết thúc.

65

Ngày như sắp bắt đầu.

Tôi như một cái lá rủ ép sát xuồng giường rồi cuộn mình thúc đầu gối lên cằm trong cái buốt, cái giá, cái gió lạnh ồn ào từ sông Cầu Chày thổi đến. Tôi biết tôi mơ đến đoạn chim, bướm và quyết liệt phóng tinh trùng là đêm tối đến hồi bị ánh sáng của ban ngày dập tắt. Tôi he hé bờ cong cuả mi mắt ra, qủa đúng như sự mơ màng của tôi: đêm sắp tàn rồi.

Tôi thấy ngọn sáng trên cái đèn dầu Hoa Kỳ bắt đầu run rẩy, nghiêng ngửa để chờ tắt.

Chẳng nghe có tiếng chó sủa nào vang lên.

Sắp kết thúc những cú gặm nhấm như chó gặm cứ đêm đêm hành hạ trong cõi sâu kín nhất của lòng tôi.

Vết thương gì vậy?

Đó là cái vết thương:

“Dân chủ triệu lần hơn”

“Tiến lên thế giới đại đồng”,

“Đấu tranh này là trận cuối cùng”

“Chủ nghĩa Cộng sản là bánh xe lịch sử đang quay”

“Chính quyền không phải là chính quyền”,

“Xã hội không còn người bóc lột người”,

“Tư bản đang giẫy chết”[1],

“Cò hồn Xã nghĩa mãi mãi là mùa Xuân của nhân loại”[2]

“Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”

vân vân…

mà Hò Văn Đản mót được từ trời Tây đem về gieo vào đất nước Mynga của tôi để cuối cùng chim, bướm của giống Tiên – Rồng teo tóp, bé tí như bướm chó, cặc ngạn cả một lũ.

Ngày lại như sắp bắt đầu.

Tôi lại muốn thưa với cậu Cao Công Thắng rằng, nước Mynga ta thực có bốn ngàn năm lịch sử đấy, cậu Cao Công Thắng ơi!  Ngoảnh lại quá khứ mà xem, ai ai cũng nhận ra và tự hào vì nước Mynga có độ dài lịch sử đó. Chứng tích vẫn còn rành rành đây:

Triệu Bà cỡi voi, khua cồng đánh giặc từ những năm trước công lịch. Tượng thờ và đền thờ của Bà nằm ở phía hạ nguồn sông Cầu Chày, vẫn còn kia.

Thành nhà Hồ xây dựng từ cuối thế kỷ thứ mười bốn ở thượng nguồn sông Cầu Chày, cũng vẫn còn kia.

Kinh Lam, nghĩa địa vua, dấu tích một thời, vẫn còn kia.

Quý Hương làng phát tích triều Nguyễn cũng vẫn còn kia.

Nhưng còn cũng chỉ để mà còn.

Từ khi Hò Văn Đản vận hành văn hóa Xã nghĩa lấy Biện chứng Mac – Lenin làm kim chỉ nam, lấy đấu tranh giai cấp làm động lực phát triển xã hội, rước mấy ông rậm râu, mũi lõ, cằm trơ, trán bóng về thờ thì đền Triệu Bà không được hương khói, không người trông coi nên đã bị tàn phá dần.

Thành nhà Hồ cũng chỉ còn bốn bức tường đá vây quanh. Nội thành bằng phẳng như mặt ruộng, dân nối vụ vào đây cày cuốc, gieo trồng. Tại trung tâm thành, nơi vua Hồ Quý Ly lập điện chầu, lãnh đạo Mynga đưa đường, dẫn lối, chỉ đạo dân Mynga đóng cọc, dựng chuồng nhốt bò, nhốt bạn nhà nông, chính xác, nó là khu chuồng trại nhốt bò tập thể của nước Mynga.

Kinh Lam còn kia, nhưng cũng chỉ khá hơn khu hoang phế thành nhà Hồ một chút. Cái nguyên vẹn còn lại duy nhất chỉ là một khối đá to (Bia Vĩnh Lăng) nặng tới hơn hai chục tấn, nghe đâu khối đá này do Phật tổ lấy từ biển Đông đem tặng, trên mặt của nó còn rành rành bản ghi chép về lịch sử Thái Tổ họ Lê dựng cờ khởi nghĩa và giành lại đất nước từ tay giặc Minh – Tàu. Còn nhà cửa lâu đài, cung vua ở đây đã biến thành phế tích và trầm tích. Vụ tàn phá này chẳng phải ngoại bang gây nên mà chính là ta, chính là Hồ Dứa –  Trung Quang cho quân đốt khi tiến quân ra Mynga tiêu diệt vua chúa Lê – Trịnh.

Di tích lịch sử này còn là vì nó ở xa nơi địa bàn thay trời sắp xếp lại giang sơn trong kế hoạch đi lên chế độ Xã nghĩa của Hò Văn Đản và đám tham mưu đồng chí của ông ta, chứ nếu nó ở gần, cháu e nó cũng đã bị cạy lên dùng làm vật liệu để đắp đập, ngăn sông, hay quai đê lấn biển, giống như số phận của các lăng mộ tổ tiên của dân Mynga ta rồi.

Tôi giả dụ, nếu không có cái đền Triệu Bà, nghĩa địa vua Kinh Lam và thành nhà Hồ, dù thành đã là nơi cấy lúa, trồng khoai, nơi nhốt trâu bò, ghi danh vào lịch sử, thì nước My nga chỉ như một đất nước mới hình thành. Vì, nếu không có những chứng tích đó, nước Mynga biết lấy gì để chứng minh có bốn ngàn năm lịch sử và văn hiến như bác sĩ kiêm nhà khảo cổ học Vũ Minh Quân luôn muốn khảng định, dù rằng, ngày nay vẫn còn có người Mynga ta với ngón chân cái tỏe ra như chân của người Việt cổ, nếu nối hai đầu ngón chân cái ấy lại với nhau thì nó giống như một cái cánh cung, một loại vũ khí để chiến đấu.

Bốn ngàn năm. Có thể nó có ở đâu đấy, dưới sâu mấy tầng đất, như người dân đào ao thả cá hay đào mương phai dẫn nước về đồng, vẫn thỉnh thoảng nhặt được những mảnh gốm, mảnh sành hay cái bát, cái chén vỡ, thậm chí còn có viên gạch ghi chữ từ thời xa xưa Đại Việt Quốc Quân Thành Chuyên”[3].

Như thế, nếu đào sâu xuống đất thì vẫn thấy nước Mynga có trầm tích lịch sử, có khi còn vượt cả bốn ngàn năm lịch sử nữa, chứ lại.

Cho nên, bác Minh Quân cứ khảng định lịch sử Mynga nhất định phải có bốn ngàn năm lịch sử là rất có cơ sở.

Còn cậu Cao Công Thắng lại nhất quyết cho là không có, cũng có cái cơ sở của nó. Vì, cậu kết luận lịch sử dựa vào hiện thực trên cái mặt lồi cuả nước Mynga.

Cái mặt lồi đó đang tồn tại như một bãi đất trống, khó có nhà khoa học nào tìm được một công trình kiến trúc đáng kể còn tồn tại và đang nhô cao lên trên mặt đất mà còn nguyên vẹn, hoành tráng.

Do vậy, cả hai ông đều có hiện thực của Mynga tồn trữ, nâng đỡ, ghi dấu ở quá khứ, hiện tại để mỗi người giữ cái lý của riêng mình.

Riêng tôi, tôi lại thấy một điều khác.

Đó là, ở nước Mynga chẳng có công trình kiến trúc cổ đáng kể nào còn hiện diện trên mặt đất đã đành mà một lễ hội văn hóa cộng đồng hoành tráng đáng kể nào, tôi cũng chưa từng được thấy, được hòa mình nhảy múa hát ca trong suốt cả thời thiếu niên, thanh niên, rồi trung niên.

Còn đâu nữa khi đình chùa miếu mạo đã bị học thuyết vô thần Cộng sản coi nó là kẻ thù không đội trời chung bị tàn phá, hủy diệt đến rêu phong cũng không còn chỗ để bám víu.

Con đâu nữa khi cái Biện chứng, cái Khách quan, Sống là còn, chết là hết của người Cộng sản tác oái tác quái đến thánh thần cũng phải nuốt hận mà giạt đi tìm nơi ẩn nấp.

Ấn tượng bốn ngàn năm còn đọng lại trong thế hệ của cha tôi, của tôi và có cả thế hệ con cháu, được Hò Văn Đản cổ vũ và xác lập thành một sinh hoạt chính trị văn hóa dã man nhất, rầm rộ nhất là đấu tố địa chủ, đấu tố tư sản, trí thức, đấu tố những người có công trong cách mạng cướp chính quyền từ tay Nhật năm Một chín bốn lăm, đấu tố các nhà văn, nhà báo,… những người đau đáu lo cho dân chủ, nhân quyền, tiến bộ xã hội.

Đó là cái thư văn hóa trấn áp, de dọa, hủy hoại và tàn sát tinh thần dân tộc, rày xéo đất nước…

Sau đó là thứ văn hóa bày đàn, người dân được í ới rủ nhau, gọi nhau tập trung lại nghe nghị quyết, chỉ thị của Hò Văn Đản hoặc phong trào tòng quân với vinh quang xanh cỏ hay đỏ ngực sặc mùi chết chóc.

Sau nữa, có phần hồi hộp hơn là tòan dân Mynga được ngày ngày vểnh tai lên nghe khí thế cách mạng và hưởng mùi no ấm, hạnh phúc trên cái loa treo ở cột xi măng cao nhất, giữa nước.

Nếu bỏ qua những cái này, dân Mynga thực sự đang sống ở giai đoạn Cộng sản nguyên thuỷ, tức sống bày đàn như lũ khỉ đỏ đít sống ở nơi rừng xanh, núi thẳm.

Họ chỉ bóp bụng kêu rên, ăn uống và làm lụng trên những cánh đồng, thửa ruộng. Và, cái gọi là văn hoá đang phát triển của dân là thứ văn hóa cầu an, lo sợ đi cùng chửi thề, văng tục, nói bậy nói bạ tụng ca lãnh tụ, báng bổ thần thánh, tổ tiên…

Từ thực tế đó, tôi có thể khái quát,

Lý luận về bốn ngàn năm lịch sử của cậu Cao Công Thắng là lý luận theo biện chứng pháp hiện sinh;

Lý luận bốn ngàn năm lịch sử của bác Minh Quân là lý luận theo biện chứng pháp moi móc.

Cả hai đều không có gì sai.

Nhưng cuộc sống tiến lên hay lùi xuống của dân Mynga không phụ thuộc vào có bốn ngàn năn lịch sử hay không có bốn ngàn năm lịch sử của hai ông mà nó phụ thuộc vào hành động của hai ông.

Vấn đề không chỉ ở nhận thức thế giới mà vấn đề ở chỗ phải cải tạo thế giới.

Nhận thức là quan trọng, nhưng không quan trọng bằng hành động.

Khởi thủy của loài người là hành động, không phải bằng lời.[4]

Vậy, bác Minh Quân khăng khăng có bốn ngàn năm lịch sử để làm gì?

Bốn ngàn năm lịch sử có thay con trâu, con bò kéo cày, kéo bừa cho nhà nông được không?

Có là củ khoai, củ sắn cho dân Mynga ăn hàng ngày để tồn tại được không?

Có thay được khẩu súng để bảo vệ đất nước, được không?

Có tự biến dân tộc từ quân chủ Phong kiến, quân chủ Cộng sản sang nền dân chủ Nhân dân được không?

bốn ngàn năm lịch sử mà dân vẫn không có tự do, dân chủ thì bốn ngàn năm lịch sử cũng chẳng có ý nghĩa gì?

bốn ngàn năm lịch sử mà đất nước lúc nào cũng nằm dưới đáy của thịnh vượng và văn minh nhân loại thì bốn ngàn năm lịch sử cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Cậu Cao Công Thắng cho rằng, Mynga không cần có bốn ngàn năm lịch sử. Nhưng, nếu không có bốn ngàn năm lịch sử mà dân được:

Tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc,

ai cũng được học hành,

ai cũng được tự do mưu cầu hạnh phúc,

ai ai cũng sẵn sàng vì mình, vì người, vì cả thế giới;

lại có một nền khoa học kỹ thuật đưa người lánh nạn từ mặt Đất lên Sao Hỏa, Sao Kim;

người dân nước mình đi đến đâu cũng được thế giới kính chào, ngưỡng mộ, thì:

cần gì cứ phải có bốn ngàn năm lịch sử mới được?.

Cần gì phải phân biệt Vô sản với Tư sản ra làm hai ngả, hai con đường để rồi phải nhọc lòng chiến đấu tiêu diệt lẫn nhau mà làm gì?

Cần gì phải nằm lòng những lời dạy bảo của Hò Văn Đản rằng, phải yêu chế độ Xã nghĩa như đàn ông và đàn bà ở phút thăng hoa thì con đường Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu mới chóng thành hiện thực

Vọng:

Tôi mơ màng hỏi Trời, hỏi Đất:

“Hai người yêu nhau phải như thế nào mới đúng ý của lãnh tụ Hò Văn Đản?”.

Hò Văn Đản hi hí  cười, rồi tiếng ông sang sảng vọng về:

“Như là trâu bò, chó, lợn, gà yêu nhau ấy”.

Cậu Cao Công Thắng hích hích cười, giọng ồm ồm xen vào:

“Ôi dào, nói toạc ra là trâu bò, chó, lợn, gà đụ nhau cho dễ hiểu”.

Tiếng Hò Văn Đản:

“Cái khác trong tình yêu nước, yêu chế độ Cò hồn Xã nghĩa của Mynga ta là như thế. Nó vừa đam mê, vừa thăng hoa, vừa khoái cảm mà lại sung sướng”.

Bác Minh Quân hì hà cười, gắt gọng như tiếng bà hàng xóm chửi đổng khi nhà bị mất trộm gà:

“Mả cha mi. Mi nói thế hóa ra đến thời Cò hồn Xã nghĩa Cộng sản này ngườì dân Mynga choa đây mới bắt đầu có chim, có bướm và mới biết đụ nhau hay sao? Hãy về đào mả ông bà tổ tiên nhà mi lên mà hỏi xem, dân Mynga biết đụ nhau từ đời nào?”.

Bác Hà Độ khì khì cười, miệng lục bục như tiếng nước sôi trăm độ có đậy nắp nồi:

“Cái mả cha nhà mi, đây nữa này: Sự sung sướng của dân nghe trên loa của mi thì thấy nhiều nhiều lắm. Nhưng nhìn vào cái bát ăn mỗi ngày, đường đi mỗi ngày, ngủ, đụ, ỉa mỗi ngày thì không phải thế. Nó bẩn thỉu, hôi tanh như đang ở cõi Diêm Vương.

Người có chữ, khảng khái như Phạm Vương thì không có chỗ dung thân, thành kẻ tù tội, bị đập vỡ sọ ở trong nhà tù, đến chết vẫn không hiểu cái chế độ Cộng sản của mi là chế độ gì?.

Chịu thương chịu khó, lam làm như Hà Độ ta đây thì bị lừa gạt, thành kẻ cô đơn, nhà tan, của mất, đến chết mới dám treo cờ cặc ở trước cổng Ủy ban để cảnh báo bọn chúng mày.

Trung thực, nhiều công trong kháng chiến như Cao Công Thắng cũng cùng đường phải tự vẫn.

Am hiểu giỏi giang về sinh lý người và động vật như Minh Quân cùng đường đành phải uống thuốc sâu mà chết.

Hiền hoà, xinh đẹp, nét na như cô Cúc bị ép thành gái điếm.

Trong lành như lũ thanh niên, bị biến thành con thiêu thân, chỉ biết ý nghĩa của cuộc đời

xanh cỏ hay đỏ ngực,

Cuộc đời đẹp nhất là cuộc đời đi đánh nhau[5].

Cả dân tộc chỉ biết con đương tiến lên là máu; vinh quang là lấy xác quân thù để chế tác huân chương.

Cái hiện thực lịch sử gì mà kỳ quái vậy? Cái định hướng tương lai gì mà sặc máu vậy?

Cái hiện thực ở cõi ma cũng không đến nỗi như vậy.

Hiện thực sinh động gì mà mọi người dân Mynga một lòng, một dạ theo mi, theo cờ đỏ, búa liềm của mi, mãi mê đi, mãi mê chết, để rồi khi ngẩng mặt lên thì thấy phía trước con đường là hang tối với vực sâu thăm thẳm đang há cái miệng đen ngòm, to lớn ngoặm dần cả một dân tộc đang lùi lủi tiến vào trong đó!”.

*

Nghe bác Hà Độ dẫn giải về tương lai, tôi lại lại mơ màng chợt nhớ đến câu cáo trong Bình Ngô Đại Cáo của Thái tổ Lê Lợi và tùy tùng Nguyễn Trãi:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,

 sao hai ông lại không cáo:

Nhân Hồ Quy Ly chính sự phiền hà,

hoặc:

“Nhân cha con Hồ Quy Ly chính sự phiền hà”,

mà lại là họ Hồ?

Phải chăng, họ Hồ, dù nhiều người có mưu lược thần thông nhưng lại không có khả năng làm chính sự? Vì vậy, cứ khi nào đất nước rơi vào tay họ Hồ làm chính sự thì đất nước lại lâm vào cảnh binh đao, chiến tranh, loạn lạc, máu chảy đầu rơi, lòng ngươi li tán.

Hồ Quý Ly chẳng thế sao?

Hồ Thơm- Quang Trung chẳng thế sao?

Và, nước Mynga thời Hò Văn Đản làm chính sự, chẳng là bằng chứng trong chuổi tang thương của đất nước và dân tộc do con cháu họ Hò làm chính sự mà ra ư?

Thiên cơ thật có trời mới biết!

Tôi lại mê mam mà giả dụ rằng, nếu dân Mynga đủ ăn, đủ uống, đủ mặc và có cuộc sống bình thường,

không sợ cường quyền,

không sợ Hò Văn Đản,

không sợ búa, sợ liềm,

và luôn chứa chất trong tim một ham muốn tột bậc Tự do hay là chết[6],

 thì liệu chim, bướm của các thế hệ nước Mynga có nhỏ dần, có ngắn dần như vậy không?

Tôi tin là không.

Thưa đồng bào, tôi tin nhất định là không.

 

[1] Tuyên truyền của Cộng sản Việt Nam.

[2] Nguyên văn: “Chủ nghĩa xã hội là mùa Xuân của nhân loại”

[3] Gạch xây thành Đại Việt.

[4] Văn hào Goter của Đức: Khởi thủy là hành động.

[5] Câu nói của anh hùng quân đội Việt Nam Lê Mã Lương, nguyên văn: “Cuộc đời đẹp nhất là cuộc đời trên trận tuyến đánh quân thù”..

 

[6] Khẩu hiệu của những người yêu tự do trên khắp thế giới.

 

2 phản hồi to “Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 65.”

  1. nhan Says:

    “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” cái đó chỉ đúng đối với lãnh đạo ĐCS VN và con cháu của họ thôi

  2. chiên da diết kiến nghị Says:

    Thôi thì “Ta về ta tắm ao ta, dù ao Cộng Sản, ao nhà vẫn hơn”.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: