Một đóa Quỳnh giữa đêm 30 trừ tịch (bài 3): “Khạc lời huyết tử”

David Thiên Ngọc

Nhà thơ Minh Đan

Nhà thơ Minh Đan

Như trong bài 2 tôi đã có nói trong dòng chảy của thơ Minh Đan nó mang hình ảnh và tính chất của một dòng sông. Mà nhất là những dòng sông từ dãy Trường Sơn đổ xuống dãi đất miền Trung quanh năm hết nắng cháy da người rồi bão bùng cuồng nộ pha lẫn gió cát đìu hiu. Cuộc sống không êm đềm như sông mùa Thu bình lặng mà nó có cả máu và hoa. Có cả trái ngang oan nghiệt mà trong đó yếu tố thiên nhiên tạo hóa chiếm một phần không nhỏ! Khiến cho ai kia cũng phải e dè mà trải lòng trước khách tha phương…“Quê tôi nghèo lắm ai ơi…mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn”.Từ đó núi sông, đất nước hun đúc nên những con người làm nên lịch sử. Từ địa đầu khúc eo Thanh Hóa, Nghệ An đến khu 5 Bình-Phú. Ngược thời gian ta thấy lắm bậc anh hùng để lại tấm gương ngàn đời ngời sáng dưới ánh Thái Dương và phản chiếu ra khắp năm Châu. Trong đó “Văn Thơ” cũng góp mặt trong gia tài đồ sộ này. Thật thế !cái khúc eo của Tổ Quốc này cả con người lẫn thiên nhiên, địa lý của mảng xương sườn thân thể Mẹ VN qua nhiều thiên niên kỷ đã chứng minh điều đó.

Yếu tố thiên nhiên, địa lý hun đúc nên con người, thấm đậm qua hàng ngàn năm…để rồi đi vào máu thịt và tạo ra tính chất đặc thù của con người nơi đó. Điểm này không phải là tuyệt đối nhưng nhìn chung đất nước ta trải dài ba miền Bắc-Trung-Nam. Ba nơi ba tính chất đặc thù được tạo ra từ hoàn cảnh lịch sử đất nước núi sông ầm ào và hùng tráng (tố chất chống ngoại xâm có từ trong cội rễ) từ tộc người mang nền văn minh Sông Hồng. Khí thiêng của núi rừng Việt Bắc, sông Đà, sông Đuống, Hồng Hà. Tình tứ, lãng mạn đầy chất thơ của Hương Giang huyền thoại với giọng hò mái đẩy đêm trăng sông nước hữu tình cùng dòng An Cựu nắng đục mưa trong, với Ngự Bình San trước méo sau tròn…Cuồng nộ như “Sông Côn mùa lũ” (Nguyễn Mộng Giác) đổ nguồn từ dãy Trường Sơn “Bên nắng đốt…bên mưa quay…” rồi thướt tha, ngọt mềm, trải lòng như Cửu Long Giang quanh năm phù sa ngọt ngào sữa Mẹ với những tiếng đàn, giọng ca tài tử đêm đêm trên sông nước, dưới trăng ngàn…

Những yếu tố ấy là chất nền cho cốt cách lẫn phong cách của con người từ khí phách đến nỗi niềm, tâm hồn trải bày ra cuộc sống. Văn chương cũng được sinh ra từ những chất liệu trên.

Sở dĩ tôi viết những dòng trên là trích lại một số ý từ công trình nghiên cứu “Văn Học VN-Hoàn cảnh lịch sử, thiên nhiên đất nước, con người” của tôi, viết vào những năm 90s của TK trước. Trong bài này tôi muốn nhắc lại trong dòng thơ Minh Đan nó cũng thoát thai từ thiên nhiên, địa lý, lịch sử. Do đó trong bài trước tôi có nói trong dòng thơ của Nữ Sĩ Đất Võ Tây Sơn nó tích tụ nhiều dòng chảy có khi tương phản, trái chiều. Tuy nhiên  có một điều kỳ diệu là tất cả cùng òa ra biển lớn. Trong đó có lúc hóa thân làm lưỡi kiếm của Hưng Đạo Vương chỉ về hướng giặc mà rằng: “ Đằng Giang tự cổ huyết do hồng”. Rồi có lúc mang cái linh khí ấy thổi vào dân gian hiền hòa nhưng lẫm liệt nhập vào “chàng Lía” ngày xưa để rồi len lỏi, thâm nhập vào tiếng hát ru kẻo kẹt dưới đêm trăng miền Đất Võ tự lúc nào mà không ai hay biết”…ầu ơ… Chiều chiều én liệng Truông Mây. Cảm thương chú Lía…à ơi…cảm thương chú Lía bị vây trong thành…” Ôi sao mà nhẹ nhàng xa vắng…lẫn bi hùng và sâu lắng…chất chứa vạn nỗi niềm với cảnh mùa xuân trên bầu trời én liệng nên thơ bao trùm thế hiểm của “Truông Mây” rồi đắng lòng cảm thương cho “Anh hùng chân đất”, chàng Lía của dân gian không màn thân xác mà đem máu xương dâng hiến cho quê nhà. Ở đây còn có “vè chàng Lía” truyền khẩu trong dân gian để cảm kích, nhớ ơn người tráng sĩ.

Những nét trên chỉ là một góc của người và thơ Minh Đan mà tôi muốn nói trong bài này. Với bối cảnh chính trị, lịch sử, nhân văn xã hội hiện nay ta nghe nữ sĩ khạc vào màn đêm tội lỗi.

Chẳng có gì chắc chắn ở trên đời.

Đừng khoác lác thoát nghèo bền vững!

Đừng mê muội giàu sang nhờ “bạn”.

Đừng ru nhau một phút lên đồng.

(Minh Đan)

Một đóa Hồng cho những dòng trên! Khi chưa làm được mũi tên ngọn giáo thì lời thơ này đã là một mũi kim. Một mũi kim khi đâm vào “tử huyệt” của quân “nội thù” thì sẽ gây sát thương không khác nào “nhất tướng công thành vạn cốt khô”.

Chưa dừng lại. Minh Đan khẳng định:

Chẳng có gì tình nghĩa xóm làng!

Chỉ có cướp và người bị hại.

Chỉ có mạn tàu kiểm ngư biến dạng.

Chỉ có kẻ thù trước mặt sau lưng.

(Minh Đan)

Và đây là cả một thùng nước lạnh nữ sĩ tạt lên nóc “cung đình chế độ”, ném “vỡ bình” chứa lũ chuột hôi tanh và đánh thức những kẻ đang mộng du mà cứ ngỡ rằng “tiến nhanh-tiến mạnh” trên… tử lộ vĩ cuồng.

-Đừng mớ ngủ thốt lời mê sảng tưởng chẳng ai hay.

Đừng qua mặt muôn dân bình bầu tín nhiệm.

Một đất nước khi cần minh bạch.

Lại tù mù gian lận đỏ đen.

(Minh Đan)

Một hoạt cảnh của thiên đường mù mà nhà thơ đang vén màn sương mờ ảm đạm phủ che. Đâu rồi những kẻ cuồng mê hãy tỉnh thức nắm tay nhau mà đứng dậy! Hãy mang vạn vạn cành hoa…hoa lài, hoa hồng hoa sói hay những “cánh dù” che phủ khắp nẻo đường cho phố phường, sông nước ngát hương…rập trời bóng mát.Cho những ngòi bút, mũi giáo đường gươm rạch mây mà khắc lời sông núi…cho tất cả không còn cô đơn, độc hành trên cõi đi về của dân tộc VN.

Chẳng có gì buồn khi phải viết sự thật dưới ánh sáng lương tâm.

Dù đã gắng hơi tàn nuôi lớn niềm hi vọng.

Dù đã tin hoa Hồng Xanh, hoa Hồng vàng, cả hoa Hồng tưởng tượng.

Lại phải chờ…

          Trăng muộn

Đêm đêm.

(Minh Đan)

Rồi nhà thơ thay lời tuổi trẻ rạch một mũi dao phẩu thuật khối u của “đỉnh cao trí tuệ” đang “Á khẩu” gối cao đầu mặc nhiên nối giáo cho những vòi bạch tuột hậu nhân của “Hốt tất Liệt”, của những đuôi sam đang nuôi mộng liếm sạch Biển Đông, gây cho vạn con thuyền ngư phủ VN phải chìm ngập trong sương, tả tơi “cột mốc” trước những con sóng bạc đầu, những chòm râu của loài thủy quái.

Minh Đan khẳng định:

Chẳng có gì quan trọng hơn Biển Đông.

Khi ngư dân Hoàng Sa, Trường Sa bị giặc Tàu hung hăng đe dọa.

Tàu sân bay, giàn khoan…vào thềm lục địa.

Những ồn ào còn tiếp diễn nay mai.

(Minh Đan)

Vâng! Những ồn ào, thảm cảnh vẫn sẽ còn tiếp diễn nay mai nếu vầng Thái Dương không đánh tan đám sương mờ giăng mắc. Nếu những lời thơ không vực dậy được cơn mê và nếu dòng máu Lạc Hồng đã phai nhạt không còn hừng hực để lại rơi vào vòng nô lệ-Bắc thuộc lần thứ 5.

Tuy nhiên Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Quang Trung Nguyễn Huệ Hồ Thơm, Triệu Thị Trinh, Bùi Nữ Tướng đang hóa kiếp tái sinh thành những Nguyên Kha, Việt Khang, Duy Thức…thành Phương Uyên, Minh Hạnh, Thanh Nghiên…và trên con đường làm tươi đẹp non sông không thiếu bóng Minh Đan với ngón tay tuy mềm nhưng móng sắc, ngòi bút vươn cao đâm toạc đám mây đen góp phần đem lại ánh sáng cho “đêm tối đang giữa ban ngày”!!!

Tôi viết về Hoàng Sa, Trường Sa.

Nhìn mặt quân thù “Khạc lời huyết tử”

Những giàn khoan lưu manh một lũ.

Láng giềng gì, đồng chí gì, đàm phán gì…muôn sự dối gian.!

(Minh Đan)

Với 4 câu trên tôi xin tạm khép lại trang này. Ngoài kia “Trăng Muộn” đang lên, rồi sao mai sẽ sáng!

Mời quí vị khám phá tiếp rừng thơ đầy hương sắc của  Minh Đan trong bài 4-Không thể ngồi yên.

Ngày 19.11.2014

David Thiên Ngọc

2 phản hồi to “Một đóa Quỳnh giữa đêm 30 trừ tịch (bài 3): “Khạc lời huyết tử””

  1. Đinhba Says:

    Minh Đan Chí lý wa,nhưng sao em lại chỉ là đóa Quỳnh hở bạn Thiên Ngọc

  2. VanHa Says:

    Chinh Nhung Loi Tho tu gioi quan-thoa nhi-nu nhu the nay moi lam cho nhung ten congsan da va dang bat tay voi giac Tau phai che mat xau-ho…Den bay-gio ma chung van cong-khai dua ca mot doan goi la Tuong sang tan dat Tau sau khi da bi bon Tau mang-mo va keu-goi lu con hoang quay dau tro lai…Khong biet goi bon chung bang tu-ngu gi cho dung nghia!!!!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: