Tiểu thuyêt Cò hồn Xã nghĩa 37.

Tiểu thuyêt Cò hồn Xã nghĩa 37.

Phạm Thành

Nhan xét cảu Thấng DưBĐX: Trước khi đọc phần 37 tiểu thuyết, mời bạn đọc thưởng thức mấy cái còm về tiểu thuyêt Cò hồn Xã nghĩa trên FB:

Phạm Thành: Tự truyện “Đèn Cù” của Trần Đĩnh như một dòng thác xối xả tràn vào các FB làm cho tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa của Phạm Thành vừa mới in còn thơm mùi mực như bị chìm nghỉm vào dòng thác ấy. Phạm Thành với trách nhiệm là mọt người “mẹ” bèn cứu nguy cho “con” bằng cách đem một ý kiến của đọc giả khen Cò hồn Xã nghĩa ngất trời quẳng vào dòng thác này(xem ảnh) nhằm cứu nguy cho “con”.

Ngay lập tức Nhà văn, đạo diễn Đỗ Minh Tuấn lên tiếng:

Đd Đỗ Minh Tuấn Sao Phạm Thành lại đặt cuốn tiểu thuyết hoành tráng của mình – một thứ cao hổ cốt chưng cất từ bao nhiêu xương cốt của một thời đại – ở vị thế ăn theo một cuốn hồi ký của một người trong cuộc viết về một nhóm người lãnh đạo thuộc Đảng CSVN? Tôi rất mến tác giả Trần Đĩnh vì đã đọc “Bất Khuất” và những sách dịch của ông, nhưng chưa đọc “Đèn cù” nên không biết trong đó tác giả Trần Đĩnh có khách quan trung thực không, hay chỉ tắm rửa cho phe Trường Chinh như ấn tượng khi đọc phỏng vấn và giới thiệu. Nhưng giá trị nhân văn và nghệ thuật của những sách chính trị đầy toan tính kiểu này làm sao so với tiểu thuyết viết bằng cảm hứng văn chương của Phạm Thành? Vừa đá bóng theo chiến thuật của những xác chết, vừa muốn làm trọng tài cho cuộc chiến của những xác chết như ông Trần Đĩnh khó lắm! Chấm điểm phân loại và phê phán những xác chết còn khó hơn. Vì chính người đang tách mình ra chấm điểm ấy đã từng sống theo, làm theo, vui buồn theo những xác chết đó và hành xử như chính những xác chết đó một thời. Bây giờ đứng trên họ để phán xử thì dễ ăn gian lắm! 7 Tháng 9 lúc 21:17”.

Như vớ được phao, Phạm Thành cung kính:

Thành Phạm Cảm ơn bạn Tuấn. Vì mình cũng còn tâm lý bầy đàn mà. Thấy thiên hạ tung hô dữ quá nên mình phải nép lại ấy mà 7 Tháng 9 lúc 9:27

Đd Đỗ Minh Tuấn Thì bây giờ là thời đại của kinh tế hàng hoá và siêu giải trí. “Đèn cù” và các sách kiểu Hồ Tập Chương là một kiểu hàng hoá siêu giải trí. Hồi ký như của Trần Quang Cơ thì khác, không có gì là ma lanh, làm hàng cả. 7 Tháng 9 lúc 9:38”.

Nhà văn, Hiệp sĩ văn chương nước Việt – Nguyễn Nguyên Bảy, một người mình chưa từng gặp bao giờ:

Bnn Nguyen Tôi com vào đây không biết có đến được trang Phạm Thành? Cầu cho đến, tôi đã được đọc, theo nhịp post chương bài trên LXQ.org, xin bầy tỏ lòng biết ơn tài năng, dũng khí của nhà văn, cúi đầu và bắt tay. 7 Tháng 9 lúc 11:02”.

Phạm Thành sướng nhưng vẫn giả vờ:

Thành Phạm Ô bác Nguyên Bảy phu quân của chị Phương Liên, bác đừng làm em ngượng. Em là bạn tâm giao của Đỗ Minh Tuấn và là em bác N. Hiếu mà. Bác chỉ cần ới một tiếng là em mang mặt đến trình diện bác và bác gái ngay. Em cũng đang ngày ngày tắm nắng mưa ở Hà Nội mà. Em biết vợ chồng bác là một hiệp sĩ lớn trong làng văn chương. Bác dành tâm huyết in hai tuyển văn và thơ Việt Nam đồ sộ. Em đừng chầu rìa nhìn nó mà nhỏ nước giải ra bác ạ. Chúng ta phải gặp nhau trong một ngày đẹp trời bác nhé. Chúc bác sức khỏe. Em Phạm Thành – 7 Tháng 9 lúc 14:0

Bnn Nguyen Thế là chúng ta thành bạn văn rồi nhé. Nhất định sớm gặp nhau. Chủ động phía mình, vì không gian và thời gian thôi. Khỏe nhé người vĩ đại. BNN”

Sướng.

*****

37.

Bác Minh Quân rầu rầu khảng định:

“Hò Văn Đản phá trang trại của bác Hà Độ, sự thật không đúng như Hò Văn Đản nói. Lý do chính là trong chính quyền của Hò Văn Đản có cán bộ muốn lấy trang trại của bác Hà Độ làm của mình và Hò Văn Đản đã đồng ý nên mới có chuyện cưỡng chế tài sản và phá hoại trang trại của bác như vậy, thế thôi”.

Bị đánh đau, thịt bầm, xương rạn, thân thể bác, tim óc bác luôn đau nhức như có kim châm hay búa đập vào. Khi bác Minh Quân cho hay sự thật này, bác Hà Độ không biết để căm uất của mình vào đâu cho hết. Bác tự thấy cuộc đời của bác như đang dần dần chìm sâu xuống hầm mộ. Nhưng bác vẫn cố sống, cố nín nhịn vì bác còn có bốn anh con trai đang làm nhiệm vụ ở chiến trường. Nhưng rồi, đầu năm Hò Văn Đản báo tử hai đưa, đến cuối năm báo tử tiếp hai đứa nữa thì mầm sống trong lòng bác cứ lịm dần, nguội dần.

Bác quằn quại đau đơn khốc liệt khi lần lượt nhận những tin báo tử này. Lần đầu tiên trong đời bác bác nhận ra nỗi đau đớn lớn nhất ở một đời người không phải nỗi đau ở thân xác qua các lần bác bị Hò Văn Đản chôn sống trên cánh đồng cho trâu bò, cày bừa trà lên hay ở lần bác bị bọn Cưỡng chế cướp trang trại đánh bác đến rụng răng, hộc máu mồm máu mũi mà là ở nỗi đau tinh thần, nỗi đau mất con. Có lẽ vì vậy mà bác gái Hà Độ khi nhận giấy báo tử thằng Hai, thằng Ba mặt bác ngay lập tức tối sầm, tái nhợt lại, tinh thần bấn loạn, chân tay rả rời như hồn người vừa lìa khỏi thân thể bác, làm bác đang ngồi ở trên giường lập tức ngã lăn ra, chân tay mềm oặt, lạnh ngắt. Và từ đây bác gái Hà Độ không bao giờ còn đứng lên đi lại được nữa.

Mấy ngày sau, có người thì thào vào tai bác gái Hà Độ rằng, tại một cuộc họp chi bộ đảng, Hò Văn Đản đã nói:

“Nhà Hà Độ từ nay sung sướng nhé, nhà người ta có một tiểu chuẩn liệt sĩ, vợ chồng ông ta có những bốn…”

làm bác gái Hà Độ uất nghẹn lên, tức thì răng bác nghiến mạnh vào lưỡi bác, làm lưỡi bác đứt thành hai, máu trào ra lênh láng một lúc rồi bác tắt thở.

Gia đình vui vầy, đông đúc của bác Hà Độ từ đây rơi vào cảnh trống vắng, tang thương, cô đơn và tuyệt vọng.

Chia sẻ nỗi đau vô cùng, vô tận của bác, chính quyền Hò Văn Đản cắt cử từng tốp thanh niên trong nước tối tối đến ngủ ở nhà bác với lý do được ông ta phổ biến là cho nhà bác có người, có tiếng, cho lòng bác bớt cô đơn và còn đề phòng bất ngờ bác ra đi. Nhưng, sau cái chết của vợ bác, tốp thanh niên nhiều đứa sợ không dám ngủ đêm tại nhà bác nữa, chỉ còn lại mình tôi đêm đêm ngủ cùng bác.

Không phải là tôi không sợ vì trong nhà bác có tới bốn ảnh liệt sĩ treo trên bàn thờ, mà thực tâm tôi muốn biết, bác có phải là người không biết lạnh giá hay không? Vì dân nước Mynga nhiều người nói như đinh đóng cột[1] rằng, bác là con của người tuyết hoặc của con rái cá sinh ra nên không biết lạnh là gì. Nhưng tôi không tin. Thịt da ai cũng là người, làm gì có ai lại không biết đói, biết rét.

Đúng như vậy, chỉ một thời gian ngắn ở với bác, tôi đã biết một cách rõ ràng, chính bác Hà Độ mới là người sợ lạnh, sợ gió rét nhất làng, nhất nước.

Cảm giác lạnh đến với bác từ từ. Hồi anh Ba, anh Tư nhà bác chưa có giấy báo tử về, tuy bị đòn đánh hội đồng nhừ tử của đám đồng chí Hò Văn Đản, bác vẫn còn đi đứng bình thường. thân thể lực điền của bác vẫn có da có thịt. Nhưng rồi, từ khi anh Ba, anh Tư nhà bác có giấy báo tử về, tâm thế tuyệt vọng cùng nỗi nhớ con ngàn trùng cách biệt, từng ngày, từng giờ cứ chầm chậm gặm nhấm cái béo tốt, cái khoẻ mạnh của bác đi. Ngày này, bác héo gầy đi một chút, ngày sau lại chút nữa, ngày sau lại thêm chút nữa. Chưa đầy một tháng sau, cái thân thể to cao chắc nịch của bác chỉ còn là một bộ gọng, như những ống giang to nhỏ chắp vá hờ hững vào với nhau. Dù vậy, người trong nước, đặc biệt là đám đồng chí, vẫn cứ khăng khăng cho rằng, bác là người không bao giờ biết giá lạnh.

Đúng là phải mục sở thị, phải vào hoàn cảnh của người thì mới biết đúng về người.

Để chống cái lạnh, đêm đêm trong những khi thời tiết trở trời hay gió chỉ heo heo lạnh là bác phải đốt lửa để sưởi ấm thân thể.

Đêm đêm tôi vẫn nghe những tiếng rên khe khẽ, tiếng bộp thịch, bộp thịch… của hai đầu gối và đôi bàn tay thay cho hai bàn chân chạm đất của bác mò mẫm xuống bếp. Đêm đêm, bác vẫn phải sống cùng ngọn lửa.

Một ông già lụ khụ, luôn đau đớn ở trong lòng, ngồi lặng thinh bên bếp lửa, trong nhà không một tiếng động, tôi có nhắm nghiền mắt lại cũng tưởng tượng ra đôi bàn tay xương xẩu của bác hơ hơ trên ngọn lửa đêm đêm; tưởng tượng ra mặt bác đang cúi vào ngọn lửa khi chúng bốc lên; tưởng tượng ra ngọn lửa đang len lỏi cháy từng sợi một trên bộ râu bác, toả ra mùi khen khét, thơm thơm, và tai tôi vang lên từng lời của bác khi sôi nổi, khi thở than gửi về nơi vô định.

Để chống lại tiếng hào hùng hay thở than của bác, đêm đêm tôi vẫn thường phải nằm trùm kín chăn từ đầu đến chân.

Nhưng hễ tôi cứ nhắm mắt nằm im là tiếng rì rầm, khi sôi nổi, khi rên rẩm của bác lại văng vẳng:

“Thằng Cả, thằng Hai, thằng Ba, thằng Tư, ngủ hết chưa, các con? Hiện các con đang chiến đấu ở đâu? Bố kể chuyện cho các con nghe nhé. Có năm bố cũng đang ngồi bó gối trong bếp như thế này, thì con rái cá thằng Ba nuôi, đến cắn vào áo bố, lôi bố đi. Các con đang ngủ, không biết trời đang lạnh lắm đâu. Cái lạnh ngoài trời thấu vào bếp, tro rạ cũng đã lạnh ngăn ngắt. Con rái cá cứ kéo áo giục bố đi. Con ngan mẹ đang ấp mấy quả trứng, không chịu nổi lạnh, vươn dài cổ về phía bố kêu khàm khạp như muốn thông báo cho bố biết rằng: ngoài trời đang lạnh lắm.

Nhưng bố không quan tâm đến mẹ ngan của thằng Ba đâu. Bố đang sung sướng vì trời rét. Bố cứ nghĩ lẩn vẩn trong đầu rằng, lạnh đến mức ngan mẹ đang ấp ủ phôi thai đàn con phải kêu lên thì cái lạnh này đến cá cũng phải ngừng bơi lội. Bố thích quá, đứng dậy ngay, lum khum mở chốt cửa bếp. Bố vừa mới hé được cửa ra, gió lạnh liền ập ngay vào. Lạnh lắm đấy, các con ơi! Con ngan mẹ đang nằm trên ổ trứng, theo quán tính bảo vệ đàn con, vội xù lông lên, mỏ vẫn liên tục kêu khàm khạp.

Mẹ ngan này, bố biết, thằng Ba trù tính ra Giêng bán đi để mua sách vở học tập. Nhưng gió thổi mạnh dường như làm bố quên đi cái kế hoạch đó của con. Bố bước ra ngoài sân với niềm vui đang lớn dần. Bố chưa bao giờ tin cái lạnh có thể làm chết người. Bố ngước lên nhìn trời. Trời không một vì sao. Bố nhìn lên nóc nhà. Nóc nhà như một xác chết im lìm, mặc sức cho gió Đông thổi ù ù, hoành hành, đùa bỡn. Bố nghe rất rõ tiếng sầm sập của mái rạ lật phật từng mảng tung lên, quật xuống; tiếng những thân tre già với những thân cành xác xơ đang cọ vào nhau bật ra tiếng rin rít như tiếng nỉ non khóc hờn, khóc giận của ma. Người yếu bóng vía lo sợ những đêm giá rét, gió thổi mạnh từng cơn như vậy, ma mãnh rất hay xuất hiện”.

Bỗng tiếng ho từ miệng bác ùng ập vang lên. Dứt cơn ho bác lại lẩm nhẩm, rên rẩm tiếp:

“Vào những cữ thời tiết như vậy, chỉ có nhà mình là mở cửa, có ánh lửa sáng lên trong đêm, còn các nhà khác bắt buộc phải đóng chặt cửa lại. Những người mẹ trẻ có chồng đi bộ đội, không còn tự tin ầu ơ ru con đầy hãnh diện mà thường ôm chặt con vào lòng như muốn giấu bọn ma mãnh, bọn đồng chí Hò Văn Đản đang đêm có thể lẻn vào. Các bà già nằm bó khoanh trên giường, lúc mê, lúc tỉnh, miệng thỉnh thoảng lại rên lên, thỉnh thoảng lại ú ớ, gào rú. Rét thế này, nhiều nhà năm nay thế nào cũng phải gieo lại mạ, trồng lại lạc, ngô. Mùa này, mùa màng lại thất bát như mọi năm thôi Có lẽ chỉ riêng nhà mình vui. Riêng nhà mình lại phải cảm ơn trời đất.

Các con ngủ nhé. Mẹ con con ngủ nhé. Cái con rái cá lại đang kéo áo bố rồi. Nó kéo bố lại đống quần áo rách để bố chọn một vài mảnh giẻ lành quấn quanh đôi chân; kéo bố lại cái áo bện bằng rơm để bố mặc thêm vào người cho ấm; kéo bố lại với cái giỏ để bố lấy buộc vào quanh bụng; kéo bố lại với con dao… Bố vận kín người rồi các con ơi! Bố đi đây. Bố lại hòa vào đêm tối, hoà cùng trời đất gió mưa đang gào rú dọa người đây.

Các con biết không, những đêm như vậy, bố kiếm được nhiều cá lắm. Có tháng được cả tạ cá, chẳng ít đâu. Một tạ cá là hai tạ thóc, là bốn tạ ngô, tám tạ khoai. Nhìn thúng cá đầy ự, bao giờ bố cũng mơ tháng Ba, ngày Tám[2]các con có khoai, sắn để ăn. Nhà nghèo mà nhờ trời kiếm được gạo cho các con ăn thì có sung sướng nào bằng, làm sao bố có thể còn thấy lạnh giá?

Những lần như thế, mẹ vẫn thường mắng bố:

“Bố thằng cu rõ hay. Rét đến thối cây, thối cỏ, chết chim, chết cá mà cứ đâm đầu đi ra. May phúc mà còn về được”.

Bố cười, ngồi lù lù bên bếp lửa như một đụn đất, trả lời mẹ:

“Thì tôi có chết đâu”.

“Mẹ thương bố và mắng yêu bố đấy, các con đừng bận tâm. Chứ mẹ biết bố năm nào chả thế, cứ gió rét căm căm, trên vùng núi cao có tuyết rơi, lạnh đến thiên hạ ai ai cũng oán trời, oán đất là năm đó bố kiếm ăn được. Năm đó, kinh tế nhà mình, tháng Ba, ngày Tám không lo đứt bữa. Anh Cả các con biết, còn thằng Tư thì chưa biết đâu. Nhà người ta có đủ gạo ăn, nhà mình khó khăn, phải chịu cảnh chúi đầu vào lạnh giá, kiếm con cá lần hồi mới có bát gạo, bữa đói bữa không. Ấy thế mà các con, đứa nào cũng lớn nhanh và khoẻ mạnh ra trò đấy. Lúc các con hai ba tuổi, đứa nào cũng béo tròn như hòn đá lăn, ục ịch. Lên năm tuổi là biết thò tay vào chậu bắt cá, tôm. Anh Cả các con có lần thò tay vào chậu bắt được con cá diếc đưa lên miệng nhai. Thấy bố đi đến, anh nở nụ cười, rộng hết cỡ miệng; những vảy cá diếc bám quanh má, quanh miệng anh lóng lánh dưới ánh mặt trời.

Ục, ục, ục. Các con ơi? Giờ các con đang nằm ở đâu? Thằng Cả nằm ở mặt trận phía Bắc, thằng Hai nằm ở mặt trận phía Nam, thằng Ba nằm ở mặt trận phía Đông, thằng Tư nằm ở mặt trận phía Tây, nghe nói mãi tận bên Tượng Vạn, Chùa Tháp. Xa nhau quá, các con nhỉ? Nơi các con nằm lạnh, nóng thế nào? Nếu được nằm ở vùng lạnh thì bố yên tâm. Bố vẫn nhớ, mùa Đông là mùa khoẻ mạnh của các con mà. Mùa Đông, dù rét đến mấy các con cũng chỉ phong phanh mặc vài lần quần áo mỏng. Nhưng hễ cứ chơi đáo, chơi khăng các con lại cởi ngay cả ra, chỉ còn mặc độc cái quần đùi.

Làng nước ai cũng nói bố nào con nấy, không biết rét lạnh là gì. Lưng các con, đứa nào đứa nấy tròn lẳn như lưng cá trắm, bắp đùi ra bắp đùi, to, đen bóng. Đàn ông, đàn bà trong nước, người nào cũng thích ngắm nhìn, cũng khen các con.

Còn nếu các con nằm ở vùng gió nóng thì khổ thân các con lắm. Bố vẫn nhớ, mùa Hè, cứ ánh sáng hé ra là các tế bào trong cơ thể mấy cha con ta đều rạo rực, mồ hôi vả ra. Cả ba tháng Hè, không ngày nào là ngày cha con mình không đổ mồ hôi. Mặt cha, mặt con mình lúc nào cũng đỏ gay, đỏ gắt, áo quần mặc trên người lúc nào cũng ướt. Từ cha đến con, chẳng ai cần đến quần áo dài; dài ngắn gì thì mồ hôi cũng thấm ướt, cũng lẩn trong mồ hôi thoang thoáng có mùi như là bùn đất, như là mùi tanh nồng của cá tôm bay ra. Vì cái mùi ấy, người trong làng nước ít trò chuyện lâu lâu với cha con nhà mình. Cha biết điều ấy các con ạ. Các con nên giữ ý. Không nên đứng lâu trong đám đông. Ôi, mùa Hè, khổ thân các con tôi!

Các con ơi! Giờ này, các con đang chiến đấu ở đâu? Hãy biên thư về cho bố nào, kể chuyện hành quân, chiến đấu nào, kể chuyện vai đeo ba lô nặng cả tấn nào. Thằng Cả, anh tha lỗi cho bố nhá. Anh biên thư về dặn, nhà ta có ba con đi bộ đội rồi, thằng Tư, bố xin với chính quyền cho nó được học lên cao. Nhưng bố đã không làm được. Cũng là vì nó giống bố, giống con. Nó cũng không chịu được đói. Nó cũng không chịu được nóng. Nó hay bỏ lớp, ra sông tắm, ra sông mò cua bắt ốc. Nhà trường đã mấy bận mời bố đến nhắc nhở, phê bình. Nó biết vì nó mà bố phải liên lụy nên nhất quyết không đi học nữa. Đã không đi học thì đi bộ đội. Phong trào của cả nước mình thế mà. Ai mà ngăn được! Thằng Cả cứ trách bố đi. Nhà mình tuyệt tự rồi mà. Bố cũng đau lắm, anh Cả ơi! Công sinh thành, nuôi dưỡng biết bao là khó nhọc của bố mẹ, các con biến thành liệt sĩ hết cả rồi. Mẹ giận bố đấy. Khi thằng Tư lên đường nhập ngũ, mẹ mắng bố là đồ vô tư lự cho đến khi mẹ chết đấy. Sao cả bốn đứa không có đứa nào nghĩ đến bố mẹ mà về một đứa? Có phải các con coi danh dự của các con hơn bố mẹ? Hay các con sợ bố mẹ mất danh dự?”.

Bao giờ cũng vậy, thì thầm tới đây, bác Hà Độ trở nên cáu kỉnh.

“Bà hãy dậy đi. Bà tưởng tôi sung sướng lắm à? Tôi nói cho bà biết, thằng Hò Văn Đản chẳng tử tế gì đâu. Bà nghe hắn xúi mà bỏ tôi đem con vào hợp tác xã; bà nghe hắn xúi, đẩy các con phải lao đầu vào chỗ chết hết cả. Bà nhớ chứ? Tôi tình cảm với bà đêm đêm do ăn cá mà sáu năm sinh liền bốn thằng con trai.

Thằng Hò Văn Đản dọa tôi:

“Nếu không hoạn cái của quý của thằng Hà Độ đi thì chỉ nhoàng một cái vợ nó đẻ ra cả một bầy thanh niên”.

Hắn còn bảo:

“Đàn bà như đất đai. Đàn ông như giống má. Đàn ông gieo giống gì thì trên đất đó sẽ mọc lên giống cây ấy. Tay Hà Độ khoẻ như trâu, hắn sẽ có cả một bầy con trai cho mà xem.”.

Chính vì vậy mà chúng bắt tôi phải đi triệt sản. Cho nên, lúc các con chết hết cả, tôi mới bất lực, mới không sinh con cho bà được nữa. Tại cái chiến tranh làm mất con, tại cái thằng Đản bắt tôi triệt sản, chứ đâu phải nhà tôi vô phúc. Tôi đâu có ham cái giấy liệt sĩ. Tôi cũng như bà, tôi cần con. Tôi cần con”.

Khi bác Hà Độ gào lên: “Tôi cần con. Tôi cần con” thì đêm cũng bắt đầu rạn nứt để về sáng. Thường lúc ấy tôi cũng dậy đi vệ sinh nhẹ. Bác Hà Độ vẫn thường cất lên tiếng hỏi:

“Thằng Tư đi đái đấy hử?” .

Những ngày mới đến ngủ đêm ở nhà bác, tôi thường đáp lại bác: “vâng”. Nhưng về sau có lần tôi “vâng”, có lần tôi không. Tôi biết bác lên tiếng là để chứng tỏ nhà bác vẫn có người, chứng tỏ nhà bác có chủ, chứ hai mắt bác vẫn nhắm nghiền cả ngày lẩn đêm, nước mắt vẫn ướt đẫm ở trong hai hố mắt bác.

Bác Hà Độ khóc nhiều lắm. Lông mi của bác rụng theo nước mắt hết cả rồi. Mỗi lần bác muốn mở mắt ra, tôi phải dùng nước, dùng khăn cọ rửa, mắt bác mới mở ra được. Bác nói với tôi, bác không còn muốn mở mắt ra nữa:

“Mở mắt cũng có thấy gì đâu anh! Tôi nhắm lại thì thấy rõ hết”.

Tôi tin rằng, mắt bác vẫn còn sáng, nhưng suốt ngày bác nhắm mắt lại, là vì bác không muốn nhìn, không muốn thấy cái gì nữa. Ngay cả lúc bác đi lại cũng vậy, mắt bác vẫn nhắm, cái gậy trong tay bác thay cho đôi mắt dẫn đường bác đi.

Có lần tôi hỏi bác:

“Bác nhắm mắt cũng như mở, sao bác đi lại còn dùng gậy để làm gì?

Bác xua xua tay, cười lên bùng bục, đôi gò má già khô queo, tàn đen, giật giật từng cơn.

“Người già đi đâu cũng cần có gậy, mới đúng cảnh già”.

Có bận bác thủ thỉ hỏi tôi:

“Tay Hò Văn Đản còn sống chứ?”.

“Vẫn ạ”.

“Hắn vẫn còn sống hỉ?”.

Rồi bác thì thầm kể lể.

“Các con này. Tay Hò Văn Đản, tay Phạm Vương, tay Minh Quân, tay Cao Công Thắng cũng đã từng theo theo cha học nghề rồi đấy.

Ục, ục, ục. Các con biết không? Các cha ấy cũng quấn giẻ quanh đùi và bắp chân, cũng mặc áo bằng rơm, cũng giỏ, cũng dao như cha. Nhưng theo cha mới bước qua khỏi lũy tre làng đã răng nọ đập răng kia, lập cập như chó đói vừa từ dưới ao lạnh lết xác lên. Chúng run mới khiếp chứ. Giống như con cầy sấy ấy. Tay Cao Công Thắng cũng thế. Cao to có kém gì cha đâu, các con! Có lẽ cao to thế nên hắn gan hơn Hò Văn Đản, theo cha đến được ao đầm, nhưng khi lội xuống bùn, mới bước được vài bước đã đứng như trời trồng, miệng luôn xuýt xoa, kêu đau đái mà mở khuy quần mãi không xong. Rồi khi lập bập mở được khuy quần thì chim Cao Công Thắng đã teo lại như quả ớt, đầu lỗ chim bịt cứng lại, cố lấy sức rặn, nước đái mới bật ra được.

Ục, ục, ục. Cuối cùng Cao Công Thắng cũng như Hò Văn Đản, Phạm Vương, Minh Quân chửi thề:

“Lạnh đến cái con cu cũng muốn chết. Có bắt được vàng ông cũng dí vào”, rồi vừa xuýt xoa, vừa lẩy bẩy bò về.

Ục, ục, ục. Thành ra, làng nước biết cách kiếm sống của cha con mình, nhưng làng nước chẳng ai chịu nổi rét để theo được cái nghề như cha. Từ đó mà chính quyền để cho cha được tự do kiếm cá trong những đêm giá rét. Từ đó mà làng nước mới bảo cha là do rái cá sinh ra, không biết giá lạnh là gì?

Không phải đâu các con ạ. Ông Phạm Vương, người có chữ, người có tài năng nhất nước, nói có lý lắm:

“Đã là con người thì có ai mà không biết đói và rét. Đói và rét là hai kẻ thù của cuộc sống. Nhưng mỗi người, do trời đất sinh ra trong những hoàn cảnh khác nhau thì có cảm nhận về đói và rét khác nhau.

Người béo tốt cảm nhận khác với người gầy guộc;

người có trái tim nóng khác với người có trái tim lạnh;

người luôn sống vì người khác, khác với người chỉ biết sống cho riêng mình;

người hiền hậu khác với người độc ác…”.

Cha cũng như bao người dân của làng nước ta thôi, Đói thì đầu gối phải bò[3]. Mẹ các con theo hợp tác xã làm ăn, cả năm được vài tạ thóc, các con lại ăn khoẻ, đầu gối không bò mà chết đói cả nhà, à con? Các con không biết, chứ bố là người sợ đói và rét nhất. Vì sợ nó quá nên bố chẳng còn biết lạnh giá là gì nữa. Có đêm bố cũng định bỏ của chạy lấy người[4], nhưng nhớ đến các con, ngày mai chưa có củ khoai, củ sắn nào vào bụng, thế là cha quên lạnh đi đấy. Người ta ai cũng da bọc xương như nhau mà, các con. Ục, ục, ục.

Thằng Hò Văn Đản chưa chết là phải lắm. Dễ gì mà hắn chết được! Thằng đểu thường phải sống lâu để trả cho hết cái nợ đời mà nó gây ra. Các con này. Khi các con bỏ cha mẹ mà đi, hắn lại bảo:

“Tay Hà Độ bây giờ tha hồ mà sung sướng. Người ta có một tiêu chuẩn liệt sĩ, hắn có những bốn”.

Mẹ con nghe thế tức nghẹn lên cổ, chân tay đạp sầm sầm xuống gường, rồi tự cắn lưỡi mà chết. Còn cha thì thấy trong người xung lên một dòng điện mạnh. Cảm thấy cục lạnh từ lục phủ tan ra. Người cha nóng hầm hập. Cha lại lăn mình hết hồ này, ao kia, lại kiếm cá. Nhà mình bây giờ còn có mấy cái ao thả cả nữa. Chỉ cá trong ao nhà mình cũng nhiều lắm, các con ơi! Nhiều nhưng để ai ăn bây giờ? Nhà mình bây giờ không khó khăn như trước nữa. Hai anh trước chết, làng xây cho cái nhà to. Hai anh sau chết, làng nuôi không cả cha lẫn mẹ. Nhà bây giờ chẳng thiếu thứ gì, có cả tủ lạnh, ti vi, có máy đo huyết áp luôn đeo trên tay cha; có sổ tiết kiệm mấy chục triệu đồng…

Tay Hò Văn Đản nói cũng đúng đấy, nhưng mà đểu. Đểu lắm. Đản ơi, mày cứ đẻ lấy một đứa con trai, một đứa thôi, rồi cho nó ra trận, rồi không thấy nó trở về để mà biết mùi sung sướng của những người như tao! Á, cái mặt thằng đó còn bẩn hơn cái mặt con rái cá, cái răng nó cũng sắc nhọn hơn cái răng con rái cá. Hắn nói khơi khơi mà cứ như kim châm vào tim, búa đập vào óc người. Đau quá! Đau quá! Hò Văn Đản ơi, đến con vật cũng mang đẫm tình mẫu tử nữa là người!”.

Biết bác đau đớn không nguôi, có lần tôi đánh bạo động viên bác:

“Bác ơi, bác có đau đớn thì sự cũng đã rồi”.

Bác nghe xong liền dướn dướn đôi lông mày, đôi mi mắt rồi lủng bủng trong miệng hỏi lại tôi:

“Sự đã rồi?”

“Vâng. Người đã chết thì làm sao còn sống lại được nữa”.

Nghe tôi khảng định thế, bác đưa hai nắm tay toàn là xương xẩu lên đấm đấm vào đầu bác. Cái mũi gầy khô của bác vặn vẹo. Mặt bác cũng méo xẹo đi, da trên mặt bác dúm dó trông vênh váo, thảm hại lắm. Bác lặng lẽ quay mặt đi. Tôi biết mình đã lỡ lời.

Ngủ ở nhà bác để trông bác, không mấy đêm tôi không nghe hay mơ màng về những câu chuyện và những lời kêu than mất con của bác, chứ tuyệt nhiên tôi chưa từng nghe tiếng bác kêu rên bị Hò Văn Đản đánh đập, phá hoại và cướp đi trang trại của bác bao giờ. Đêm nay, tôi cũng lại nghe và mơ màng về những lời kêu than này của bác. Nhưng khác với mọi lần, khi kết thúc giấc mơ, hé hé mắt ra, tôi chợt nhìn thấy bác đang quỳ bên cạnh giường tôi nằm, hai tay bác chắp vào nhau, nhằm tôi mà vái. Rồi tôi lại thấy bác sờ sờ vào người tôi. Bàn tay bác lạnh như đồng, như tuyết.

Tôi nghe bác hỏi tôi:

“Nhân – có lúc bác gọi đúng tên tôi chứ không kêu là thằng Tư nữa – Nhân, con có muốn làm con nuôi bác không?”.

“Không, không, không”.

Chẳng biết sao lúc ấy tôi lại trả lời bác thế.

“Không hả?”.

Bác lên giọng đáp lại tôi mà tôi nghe như tiếng trầm đục từ âm phủ vọng lên.

Tôi nhìn lên thấy mặt bác như tối hẳn lại và bác từ từ ngã lăn quay xuống đất. Tôi phát hoảng, vội mở hẳn mắt ra. Đêm vẫn còn tối lắm. Bỗng tôi nghe tiếng ục, ục, chút chít của con rái cá già từ bếp vọng lên và lẩn trong mùi khen khét, thơm thơm từ râu cháy còn có mùi khét nồng, chua chua như mùi của áo quần cháy, lan toả. Tôi choàng dậy, lao xuống bếp. Thấy bác Hà Độ vẫn ngồi lặng lẽ, quần áo bác đang bị lửa gặm nhấm, khói đen từ áo cháy trên lưng bác bay lên. Thấy con rái cá già, lông ở lưng đã rụng từng mảng, đang ục, ục, chút chít, rối rít bên bác. Mặc, bác như không cảm thấy nóng, chỉ rung rung hai đầu gối cho nó cụm sâu hơn vào giữa ngực. Tôi biết, bác đang lạnh run.

Tôi muốn hô to lên:

“Người nước Mynga ơi, hãy đến đây mà xem, bác Hà Độ đang lạnh lắm”.

“Hò Văn Đản ơi, hãy đến đây xem bác Hà Độ với bốn con trai là liệt sĩ đang sung sướng như thế nào?”.

Tôi biết, lửa của ngọn lửa bếp, lửa của ngọn lửa cháy trên người bác dường như không chống nổi cái lạnh âm thầm, bền bỉ toả lan ra từ tim bác.

Tôi thấy mình nghẹt thở, hối hận. Ngoài trời, gió Đông sớm của tháng Tám vẫn thổi từng cơn, gào rú, đùa bỡn trên những mái nhà lợp rạ. Tiếng những thân tre già xác xơ vẫn cọ vào nhau rin rít như những tiếng khóc hờn, khóc giận, khóc ao oán của ma…

Chợt, tôi rùng mình. Cái lạnh giá từ đâu đó xộc thẳng vào tim tôi.

*

Một ngày Thu, tháng Tám, trời đẹp, mây bay người dân Mynga bất ngờ thấy trên cây cột xi măng mắc loa ở trước cổng Ủy ban nhân dân, có một người trần truồng treo cổ chết trên đó.

Người này chết hoàn toàn có chủ ý và dường như rất cẩn thận chọn cho mình một tư thế chết đặc biệt, lạ mắt.

Người này không những tự mình trần truồng ra mà trên đầu chim của ông ta còn được ông ta kỳ công buộc chặt vào đó một lá cờ có hình búa và liềm và tự treo mình trong tư thế hướng thẳng chim và lá cờ vào cổng của tòa nhà Ủy ban nhân dân nước Mynga, nơi ngày ngày Hò Văn Đản và đám đồng chí của ông ta làm việc.

Người đó chính là bác Hà Độ.

Ôi, tôi thương bác Hà Độ quá.

Bác là người tài duy nhất của nước Mynga tiên tri được tiếng trống tiền định chết người dần, két, dần, tòm trước những ba mươi năm, bác lại còn là giáo sư ươm mầm sống, ươm mầm tinh thần sánh vai với các cường quốc năm châu bốn biển cho các thế hệ thanh thiêu niên nước Mynga nhưng lại không thể thoát cái giá cực hình phải tự mình treo cổ mình lên để chết.

Khi hạ thân thể bác Hà Độ xuống, thấy trên hai mặt của lá cờ, có mấy câu thơ, viết bằng máu đỏ.

Một bên là bài:

“Cặc cờ, cờ cặc, cặc cờ

Tung bay phần phật, Đản ngờ được không?

Xã nghĩa là cái chổng mông

Mác xít là cái cặc lông tông quần”.

Bên kia là bài:

“Cờ cặc, cặc cờ, cờ cặc

Mấy thằng mặt giặc

Nhìn cặc tao đây

Ăn cặc tao đây

Trả con tao đây”.

Tôi chẳng biết thơ bác viết như thế có ý nghĩa gì. Nhưng vì nó gắn liền với cái chết của bác nên dân Mynga ai ai cũng thuộc làu làu. Nhưng tôi biết một cách chắc chắn rằng, bác buộc cờ vào cặc rồi trần chuồng treo minh chết trước cổng Ủy ban là bác thể hiện nỗi hận mất con không bao giờ tan trong lòng bác và nỗi hận cái cặc của bác có mà như không, lúc cần nó để sinh con, nó lại hoàn toàn bất lực.

 

[1] Thành ngữ Việt Nam.

[2] Thành ngữ Việt Nam.

[3] Tục ngữ Việt Nam.

[4] Thành ngữ Việt Nam.

9 phản hồi to “Tiểu thuyêt Cò hồn Xã nghĩa 37.”

  1. tiendang36 Says:

    Mỗi tác phẩm (nếu thực sự được viết bởi một người tử tế) đều có vị trí riêng không thể thay thế. Tôi cũng đã đọc liền một mạch Trần Đĩnh và cũng đọc liền một mạch Phạm Thành. Đọc xong chỉ biết nói một câu thế này: Cả hai đều đáng đọc. Đọc rồi thì buộc phải suy ngẫm. Những cuốn sách được viết bằng trải nghiệm của cả một đời người. Không dễ dàng gì mà có được những cuốn sách như thế…

  2. Tin thứ Tư, 10-09-2014 « BA SÀM Says:

    […] Tiểu thuyêt Cò hồn Xã nghĩa 37. 09/09/2014 […]

  3. Triển lãm ‘Cải Cách Ruộng Ðất’ gây bất bình dư luận | Says:

    […] CẢI CÁCH QUA TIỂU THUYẾT CÒ HỒN XÃ NGHĨA CỦA PHẠM THÀNH (FB Phạm Thành). – Tiểu thuyêt Cò hồn Xã nghĩa 37 (BĐX).  – Cộng sản: thời xưa tốt, thời nay xấu… (DLB).  – HỒ CHẾT MẤY […]

  4. Anhbasam Điểm Tin thứ Tư, 10-09-2014 | doithoaionline Says:

    […] CẢI CÁCH QUA TIỂU THUYẾT CÒ HỒN XÃ NGHĨA CỦA PHẠM THÀNH (FB Phạm Thành). – Tiểu thuyêt Cò hồn Xã nghĩa 37 (BĐX).  – Cộng sản: thời xưa tốt, thời nay xấu… (DLB).  – HỒ CHẾT MẤY […]

  5. Triển lãm ‘Cải Cách Ruộng Ðất’ gây bất bình dư luận | Nhận thức là một quá trình... Says:

    […] CẢI CÁCH QUA TIỂU THUYẾT CÒ HỒN XÃ NGHĨA CỦA PHẠM THÀNH (FB Phạm Thành). – Tiểu thuyêt Cò hồn Xã nghĩa 37 (BĐX).  – Cộng sản: thời xưa tốt, thời nay xấu… (DLB).  – HỒ CHẾT MẤY […]

  6. ***TIN NGÀY 10/9/2014 -Thứ Tư. « PHẠM TÂY SƠN Says:

    […] Tiểu thuyêt Cò hồn Xã nghĩa 37  -(Badamxoe) […]

  7. Điểm tin CCRĐ miền Bắc sau triển lãm | Nhận thức là một quá trình... Says:

    […] CẢI CÁCH QUA TIỂU THUYẾT CÒ HỒN XÃ NGHĨA CỦA PHẠM THÀNH (FB Phạm Thành). – Tiểu thuyêt Cò hồn Xã nghĩa 37 (BĐX).  – Cộng sản: thời xưa tốt, thời nay xấu… (DLB).  – HỒ CHẾT MẤY […]

  8. Điểm tin CCRĐ miền Bắc sau triển lãm | Says:

    […] CẢI CÁCH QUA TIỂU THUYẾT CÒ HỒN XÃ NGHĨA CỦA PHẠM THÀNH (FB Phạm Thành). – Tiểu thuyêt Cò hồn Xã nghĩa 37 (BĐX).  – Cộng sản: thời xưa tốt, thời nay xấu… (DLB).  – HỒ CHẾT MẤY […]

  9. TỔNG HỢP THÔNG TIN XUNG QUANH TRIỂN LÃM CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT | doithoaionline Says:

    […] CẢI CÁCH QUA TIỂU THUYẾT CÒ HỒN XÃ NGHĨA CỦA PHẠM THÀNH (FB Phạm Thành). – Tiểu thuyêt Cò hồn Xã nghĩa 37 (BĐX).  – Cộng sản: thời xưa tốt, thời nay xấu… (DLB).  – HỒ CHẾT MẤY […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: