Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 26.

Phạm Thành

26.

Chị hai tôi, sau cái bận cải nhau với mẹ tôi về công cụ hái rau khoai lang, tâm tính chị tôi có gì đó đổi khác.

Đêm ngủ chị hai hay cựa quậy.

Ban ngày mặt chị rất hay trầm tư.

Đôi mắt chị hai lúc ánh buồn, lúc long lanh như mắt của con cú dại.

Bị đói triền miên, tinh thần buồn là Biện chứng của cõi lòng không của riêng ai.

Nhưng ngày nào cũng đói mà chị lại buồn thì có cái gì đó rất vô lý.

Mà có phải riêng mình chị hai rổng ruột ngày ngày đâu, cả nhà ta rổng ruột, cả nước Mynga ta rổng ruột. Công bằng chia đều cho mỗi công dân thì có gì mà chị hai phải buồn?

Lãnh tụ Hò Văn Đản chả nói sao:

Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng[1].

Cả nước cùng theo lệnh kẻng, cùng ra đồng, cùng hăm hở bứt lá rau khoai lang, ăn cướp phần của lợn, chẳng công bằng sao?

“Như vậy, đường lối: đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, con đường tiến lên Xã nghĩa Cộng sản của nước Mynga chả đã gặt hái thành công được một nửa rồi sao, thưa chị? Chị hai có buồn cả ngày lẩn đêm cũng không gánh được nỗi buồn vì đói của dân Mynga ta đâu”.

Thấy chị hai tôi buồn, tôi cứ thương thương chị hai tôi như thế nào ấy.

Chị hai tôi là người chịu nhiều thiệt thòi trong gia đình.

Chị hơn tôi hai tuổi, nhưng đi học cũng chỉ học cùng tôi, nghĩa là chậm hơn hai năm so với trà lứa đi học của chị.

Chị còn phải việc nhà, việc đồng gấp mấy chục lần tôi.

Tôi, tuy có bữa học, bữa nghỉ, nhưng công việc học hành của tôi được cha mẹ tôi quan tâm hơn chị.

Tôi chỉ phải phụ giúp cho cha tôi khi thì chăn nuôi, khi thì làm vườn, nếu so với chị, tôi vẫn còn nhàn chán.

Chị hai tôi, nào là phải chăm lo việc nhà cửa, nấu cơm, quét nhà, nhổ mạ, gánh phân, cày bừa, cấy gái, thu hoạch mùa màng, cái gì cũng đến tay chị hai tôi, nhất là từ khi chị cả tôi bị anh Đoàn cõm đi biệt tích.

Ấy thế mà chị tôi cũng đeo đẳng học và có bằng cấp ba hệ bổ túc.

Một buổi trưa của tháng Mười, gió bấc tràn về, lá trên cây vàng úa, rơi rụng, bay lả xả trên mọi nẻo đường, vườn tược của nước Mynga thì có đoàn cán bộ văn công nước Mynga đến Mynga tuyển diễn viên văn công.

Chị hai tôi là người duy nhất trúng tuyển trong bộ môn diễn viên hát Chèo.

Chị trúng tuyển nhưng kiến thức của chị chưa có gì để mường tượng ra cái nghề này học tập ra sao, hành nghề ra sao và cuộc sống sau này thế nào?

Chị đi tuyển là có bạn chị rủ chị đi tuyển.

Nhưng ác nỗi, cha tôi nhất định không cho chị đi, vì cha tôi cho rằng, nghề xướng ca là nghề của bọn vô loài, bọn bất tri vong quốc hận[2].

Cha tôi còn ào ào mắng vào mặt chị:

“Chó còn được xếp nó vào loài chó. Đằng này, hành cái nghề mà không được xếp vào loại nào, gọi chung là vô loài, không bằng chó. Học hành mà làm gì?”.

Cha tôi kiên quyết không cho chị hai tôi đi văn công.

Mấy ngày sau, chị hai tôi thì thào với tôi:

“Em ơi. Chị quyết định không sống ở quê nữa. Bọn thằng Hò Văn Đản, hắn chó đểu với nhà mình lắm. Chị đi gánh phân, đội ghi có ba mươi cân, người khác chúng nó ghi những năm mươi cân, được công điểm nhiều hơn hẳn chị. Đến khi thu hoạch chia thóc lúa, ngô, khoai, cứ hôm nào thóc ướt, khoai ướt bám nhiều đất là bọn chúng mới chia cho nhà mình. Uất lắm. Chị phải đi. Phải đi”.

Thế là một buổi tối, không thấy chị hai tôi về nhà nữa. Mẹ tôi, cha tôi đi tìm ngược, đi tìm xuôi, nhưng cũng không thể tìm thấy chị. Sau có người nói, chị hai tôi đã tình nguyện đi Thanh niên xung phong làm đường giao thông trên miền ngược rồi. Đúng là ít lâu sau chị hai tôi biên thư về nhà nói, chị đi Thanh niên xung phong làm đường, nay trở thành công nhân giao thông rồi.

Mười năm sau, chị hai tôi bỗng nhiên về nhà, chẳng thấy chồng đâu mà bên nách chị hai tôi còn đeo một đứa con nhỏ mới sinh đỏ hỏn độ một tháng tuổi.

Chị hai làm gì trong mười năm xa nhà ấy và chồng chị đâu? Đứa con đỏ hỏn kia là con ai?.

“Nó là con ai?”, mẹ tôi hỏi mãi, nhưng chị hai tôi nhất định không nói.

Mẹ tôi cứ cau có với chị hai tôi:

“May mà cha chị đang ở tù, chứ con cái kiểu này, cha chị mà có nhà, chị có mà trôi sông”.

Chị hai tôi kể nhiều với tôi về mười năm bỏ nhà đi Thanh niên xung phong, rồi thành công nhân giao thông này.

Chị hai tôi cũng đắng cay và chịu cơ cực đủ điều.

Ngay từ khi ra nhập đội Thanh niên xung phong, chị hai tôi được điều ngay lên điểm chót đường giao thông tại xã Tần Tén, huyện Hóa Quan, giáp với nước Tượng Vạn.

Chị kể, lần đầu tiên ngồi trên xe tải, qua hai ngày xe chạy, xương thịt chị như bị long bốc, rả rời tơi tả cả ra.

Xe chạy trên đường mà như phải đánh vật với tử thần.

Đường ngoằn nghèo, hiểm hóc, gồ ghề đã là một nỗi sợ, gặp khi mưa, bất ngờ cả một núi đất đá khổng lồ từ bờ ta-luy đổ ập xuống, không biết đâu mà tránh, cũng là nỗi sợ hãi kinh hoàng thường trực.

Rồi những khi xe bám cầu treo chênh vênh bắc qua sông, suối mà bò, cầu đong đưa, rung lắc, xe đi trên đó như đang đánh đu, đánh võng giữa biển khơi mây mù, sóng gió. Thật khiếp đảm.

Rồi khi chiều xuống, rừng núi âm u, sương núi bảng lảng thốc vào người, miên man tê lạnh.

Những lúc hoàng hôn núi như vậy, chị hai tôi thường nhớ nhà vô cùng.

Nhưng khi đến công trường thì chị dần dần quên đi nỗi nhớ nhà, nhớ em, nhớ mẹ, vì có tới mấy vạn thanh niên cùng trang lứa với chị ở khắp nước Mynga hối hả đổ dồn về đây. Họ cũng tình nguyện và háo hức lên đây bạt núi, chặn sông, mở đường như chị.

Với sức trẻ, chán cảnh nông thôn mà tình nguyện lên đây, họ chỉ nhớ mình lên đây là để cống hiến.

Mấy năm ròng rã, bàn tay các chị với cuốc xiểng, xe cút kít, xe bò, thuốc nổ đã san hàng trăm quả đồi, lấp hàng chục suối sâu, bắc hàng chục cây cầu, đắp hàng trăm cây số đường với một nhiệt huyết hừng hực vì một ngay mai tươi sáng của nước Mynga.

“Cũng vui em ạ. Ngày ngày, khi sương mù còn luẩn quẩn trên các ngọn đồi, tiếng mìn phá đá vang lên, lệnh kẻng gọi nhau đi làm, tiếng người cười nói râm ran, làm át cái mệt, cái nhọc, cái nguy hiểm”.

Chị hai tôi còn trầm trồ:

“Đúng là dời núi và lấp biển, quyết chí cũng làm nên[3], em ạ”.

Say chuyện, chị hai tôi nói trong hơi thở dốc:

“Chả biết chị sinh giờ nào, tháng nào mà cái số chị rất là không may. Mọi người cũng đợt xung phong với chị, được xếp vào đội xẻ đồi, bạt núi, thì chị lại bị biên chế vào đội trộn bê tông xây cầu, xây cống. Bụi bặm kinh khủng, nhọc mệt kinh khủng. Chính nó làm cho sức khỏe của chị bị cạn kiệt”.

Cứ kể đến đoạn này, chị hai tôi thường đưa tay lên ôm mặt khóc nức nở.

Cũng như mẹ tôi, tôi tò mò hỏi chị mấy lần về chuyện chồng con của chị. Không có lần nào chị hai trả lời câu hỏi của tôi. Nhưng như không thể không nói, chị hai tôi đã đưa cho tôi một quyển vở học sinh, rồi chị hai tôi nói trong nước mắt:

“Em đọc ở trong đây thì hiểu các chị”.

Tôi đọc, đó là một đoạn nhật ký của một anh cán bộ nào đó, có lẽ là người yêu của chị hai tôi và là cha của đứa bé mà chị hai tôi đã ôm nó về chăng?

“Em… thân yêu!

Anh lo cho em, khi em làm trên công trương trộn bê tông. Trên công trường này, lúc nào cũng mịt mù bụi đá, xi măng. Bàn tay em không bọc trong găng tay, bờ vai và tấm lưng em chỉ được bọc trong làn áo mỏng. Các em thay băng chuyền, máy súc, thậm chí cả máy trộn bê tông sản xuất ra từng khối bê tông. Đá nặng, sắc cứa tay, cứa vai, cứa lưng em mỗi ngày bao bận?

Các em như nhỏ đi, mờ đi, và vô hồn khi động cơ máy nghiền đá, động cơ máy trộn bê tông làm việc rào rào, tong tóc…

Các em biết không, những phân tử xi măng li ti phá hoại đời các em lúc nào không hay đấy. Ấy thế mà các em cứ vô tư làm việc trong khi những li ti phân tử xi măng như sương mù vây phủ lấy em. Khó có thể nhận ra em là ai ở trạm trộn xi măng khimáy đang chạy này. Người mặc quần áo phải hoá trang như đất hay chính đất đang hoá trang cho các em?”.

Ở một đoạn khác:

“Hôm qua anh đến thăm công trường em, chứng kiến cảnh em bị tai nạn. Anh ghi lại trong quyển nhật ký này, mai ngày em đọc để em nhớ lại.

Hôm ấy, anh thấy một cô gái đang ở trên thùng xe, hùng hục chuyển từng bao xi măng xuống cho người ở dưới cõng về công trường.

Anh nghe cô ở trên xe quát em:

“Gần lại. Còng lưng xuống. Nhanh lên. Làm ăn cái kiểu gì đấy?”.

Và, khi bao xi măng vừa đặt xuống lưng em thì em ngã sấp mặt xuống đất.

Anh lao đến hô to:

“Gọi y tá nhanh lên”.

“Vai em nó đã đỏ máu rồi kia kìa”.

“Dừng công việc lại tí nào”.

“Bụi xi măng làm người ta chết ngạt đấy”.

“Em biết không, ông chỉ huy công trường xác nhận với anh rằng, các em phải làm cật lực như vậy là do ô tô chở xi măng về nhập kho, người lái xe luôn miệng giục công nhân nhanh chóng bốc hàng xuống. Ô tô chở xi măng ra hiện trường, lái xe cũng quát tháo công nhân đòi nhanh chóng bốc hàng lên. Ngày nối ngày, làm việc trong điều kiện bụi bặm lại không có giầy dép, mũ mão, áo quần bảo hộ, có tới bẩy mươi phần trăm các cô gái ở công trường này đã rách vai, chảy máu, vì những li ti bụi phân tử xi măng này…”.

Nhật ký có chừng đó dòng, nhưng chị tôi luôn cất nó trong người, xem như một báu vật bất li thân.

Chị nói:

“Anh viết những dòng nhật ký này là viết về chị”,

“Nhật ký chỉ có chừng ấy, vì anh ấy bị mìn bắn đá chẳng may bay vào người nên anh đã bị tử nạn rồi”.

Cầm lại cuốn nhật ký, dắt nó vào bụng, chị hai tôi lại đưa tay ôm mặt, khóc nức nở. Tôi chẳng biết nói lời gì để ản ủi hay động viên chị hai tôi, trong đầu tôi chỉ lóe lên nỗi niềm thổn thức về một kiếp người của chị:

“Ôi trời! Sao số chị hai tôi lại khổ cực, hẩm hiu như vậy?”.

Sau mấy năm thi công tuyến đường huyết mạch bậc nhất của nước Mynga xuất phát từ trung tâm nước Mynga kéo đến điểm chót phía Tây cơ bản hoàn thành với mức độ tôn cao nền đường và rải đá cấp phối, mấy vạn thanh niên tình nguyện làm công không lương được chỉ lệnh tùy nghi di tản.

Một số rất ít được cấp trên cho đi đào tạo thành cán bộ nhà nước, còn lại hầu hết họ lại trở về nơi họ đã ra đi.

Một số ít tình nguyện ở lại làm công nhân duy tu, bảo dưỡng đường nơi đèo mây heo hút gió.

Chị hai tôi vì bị tai nạn nên được ưu tiên lưu dung làm công nhân giao thông đường bộ trong số ít này.

Có lần tôi hỏi chị hai tôi:

“Vì sao các chị không về quê mà tình nguyện ở lại làm công nhân giao thông ở nơi heo hút này?”

Chị hai tôi nói:

“Những người ở lại đều lâm vào hoàn cảnh éo le nơi quê nhà, em ạ”.

Có người học hành không đến đầu đến đũa.

Có người chẳng biết đi đâu, làm gì.

Có người do bố mẹ bỏ nhau, có về lại quê cũng bơ vơ.

Có người có bố mẹ hoặc cả bố lẩn mẹ đều đã hy sinh trong kháng chiến.

Có người bị làng xóm chê bai là gái già không kiếm được chồng.

Tất cả các anh, các chị đều còn rất trẻ, em ạ.

Nhiều người chỉ vừa mới rời ghế nhà trường.

Trong số đó, có em thi đại học không đỗ, nghĩ mình cũng chẳng thân thế gia đình cán bộ gì để có thể kiếm được cái nghề gì đó khá hơn.

Hầu hết những người ở lại đều là phụ nữ chưa chồng.

Sau nhiều năm bám trụ với đường, bây giờ đa phần trong số họ thành gái quá thì, lỡ lứa.

Còn chị, cứ nhớ đến cái mặt thằng Hò Văn Đản là chị không muốn về, khổ mấy chị cũng không muốn về”.

Thì ra cái sự tự nguyện đi Thanh niên xung phong, tự nguyện ở lại nơi đèo mây heo hút này, mỗi người đều có lý do riêng của mình.

Chị hai tôi bao giờ cũng rầu rầu khi kể tới đoạn kết của một đời làm công nhân ngành giao thông của chị.

Chị nói:

“Gọi bọn chị là công nhân, chứ thực chất nghề ngỗng có ra gì đâu em. Cũng chỉ ngày nối ngày quanh quẩn với đất đá, giống như khi mình đi làm thuỷ lợi ở nhà quê.

Sáng sáng, khi sương mù còn bao phủ trên các đỉnh núi hay luẩn khuất dưới dòng sông, khe suối, các chị lại lặng lẽ rời lán trại đi xây cầu, bắn đá, nổ mìn, đập đá, rải đường. Công việc thật nguy hiểm và đơn điệu. Vất vả quanh năm rồi cũng quen dần, còn chuyện chồng con thì khó mà quên được, em ạ”.

Chị hai tôi, nước mắt, nước mũi lại ứa ra.

Nghe chị thở than, tôi vừa cảm phục chị, vừa ái ngại cho chị. Tưởng tượng đến cảnh núi non hiểm trở ngày đêm quây quây quanh lán các chị ở; nhìn con đường gồ ghề, lởm chởm, len lỏi quanh núi đồi, là nơi các chị luôn phải gồng mình làm việc vất vả, nguy hiểm, chả biết sao trong mắt tôi lại hiện lên hình ảnh các chị giống như những con bò rừng ngơ ngác, lúc nào cũng sợ sệt khi chúng bị bắt về miền xuôi để cày bừa xây dựng chế độ Xã nghĩa.

Chị hai tôi nói chuyện với bất kỳ ai cũng hay láy đi, láy lại những điệp khúc này, dường như nó là hình ảnh luôn ẩn nấp trong trí não chị, chỉ đợi dịp là nó tuôn ra:

“Những ngày đầu trên công trường, vần vò với đất, với đá, mấy ai lại không rơi nước mắt. Mùa Hè làm trên mặt đường, nắng giữa trưa như vây lấy thân thể con người. Một ngày làm tám tiếng, mười tiếng, có ngày phải thay tới ba bận quần áo mà không mấy khi quần áo còn khô khi mặc ở trên người. Không hiếm người bỏ việc, trốn việc vào rừng, đào củ mài, củ ráy luộc ăn tại rừng. Rồi những khi mùa Đông đến, rét vùng núi cao ghê gớm lắm, đất đá lạnh tê người. Cái lạnh làm cho đất đá cứng hơn, lì lợm hơn, góc cạnh sắc hơn, dễ làm đứt chân tay người hơn”.

Có lẽ vì khổ cực quá mà chỉ mới mấy năm lăn lộn ở công trường trên mặt chị hai tôi đã phảng phất nét gìa nua, từng trải. Nóng, lạnh, kỷ luật lao động nghiêm khắc làm những đường gân, thớ thịt trên cơ thể chị hai tôi phải cương lên cọ sát với đất đá, nó để lại dấu ấn dạn dày mốc xám trên khuôn mặt thanh tú cùng cái mũi dọc dừa, đôi con mặt xanh biếc với hàng mi cong cong của chị hai tôi.

Đâu rồi cái tinh thần vô tư, hồn nhiên, say đời của tuổi mười tám, đôi mươi của chị?

Lán trại xây bên sườn đồi, cạnh suối nước,

điện thắp sáng – không,

đài đóm – không,

bản làng thì xa,

làm thì cực nhọc,

ăn uống thì kham khổ,

tối nào các chị cũng ngồi quầy quần bên nhau, hết chuyện làng xóm, bạn bè, bao giờ các chị cũng quay lại chuyện lấy chồng, có con với tiếng than thở chưa bao giờ chạm đến trời xanh:

“Chị em mình đã vào nghề này, còn ai yêu, ai lấy chúng mình nữa! Mà nghề có ra nghề đâu. Nó cũng chỉ là nghề phải lao động trực tiếp bằng chân tay. Có mấy ai coi trọng cái nghề làm lục lộ của chúng mình. Chúng mình đừng mơ tương lai chồng con, ai người ta đoái hoài tới mình! Chỉ mong kiếm một đứa con nuôi thôi”.

Tôi có cảm giác lành lạnh ở trong tim khi nghe chị hai tôi tâm sự đoạn điệp khúc này.

Một đời người, có một đời tuổi trẻ, mà tuổi trẻ của con gái thì đi qua nhanh lắm! Kiếm được anh chồng tạm gọi là tử tế ở thời buổi này đâu có dễ! Thanh niên đã chết vãn đi nhiều do tham gia vào mấy cuộc chiến tranh, đặc biệt là cuộc chiến huynh đệ tương tàn kéo dài hai mươi năm giữa ý thức hệ Cộng sản và không Cộng sản diễn ra trên chiến trường ở nước Mynga.

Cả nước Mynga, con gái làm nghề lục lộ trong ngành giao thông, tuổi đã cao nhưng chưa chồng còn rất nhiều. Các chị không chồng mà có con cũng không hiếm, nơi nào trong nước Mynga mà không có. Mấy vạn hay cả triệu con gái?

Con gái không chồng nhiều đến mức chính quyền Hò Văn Đản không dám công bố rõ ràng con số nhiều, chính xác là bao nhiêu.

Đem thân gái tơ liễu vần vò với đất, đá, xi măng hoặc nhựa đường, chỉ bằng chân tay, lấy sức người là chính, nghề chẳng ra nghề, lao động lại cực nhọc, thu nhập lại thấp, má hồng chóng phôi phai, ế ẩm là điều có thể hiểu và thấy được.

Tôi hỏi chị hai tôi:

“Lãnh tụ Hò Văn Đản có hay đến thăm công trường không, chị?”.

Chị hai tôi:

“Cũng thỉnh thoảng. Hắn thường có mặt ở ngày khai mạc và khánh thành”.

Chị hai tôi cũng nhớ rằng, cứ đường làm xong đến đoạn nào là dân bản mở mặt vui đến đấy. Dân bản đem lợn, gà, gạo đến tặng công trường. Trông mặt mày họ rạng rỡ lắm.

Trưởng bản phát biểu rất thật lòng:

“Có đường, bản tôi như được khai sinh một lần nữa. Cả đời tôi, bản tôi, mong có đường lộ từ lâu rồi. Thời Pháp, có mấy ông Tây lên đây xi lô, xì lồ, tưởng nó bỏ tiền ra mở đường cho dân mình, nào ngờ hắn chỉ quan tâm đến nương thuốc phiện. Nay, có đường rồi, bản tôi sẽ có tất cả”.

Đúng là có đường cuộc sống của bản làng thay đổi trông thấy.

Nhưng lúc chị hai tôi vui, tôi cũng chia sẻ đại đại với chị:

“Thì đúng rồi, chị ơi! Giao thông là đòn bẩy có vai trò kích thích cho nhân dân thay đổi tư duy để phát triển kinh tế mà lại. Có đường chạy qua thôn, bản, người ta sẽ tính toán, lên kế hoạch sử dụng lao động, đất đai cho ra kinh tế mà lại.

Có đường, nhà nhà bận rộn với công việc làm ăn mà lại.

Trong một gia đình, có người ra ruộng cấy lúa; có người ra đồi trồng mía, trồng dâu; có lao động già cả ở nhà thì lo chăm con lợn, con gà. Có đường họ không lo sản phẩm không tiêu thụ được. Cây mía, lạc, đậu, mật ong, rồi tre, luồng, măng, chuối…không sợ không có người mua.

Như ở quê ta, trước đây chưa có đường, sức lao động của dân lúc nào cũng dư thừa, vì quanh năm chỉ quẩn canh với cây lúa, cây khoai. Nay có đường, họ an tâm trồng lúa, vững tin trồng mía, trồng lạc, trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ. Cây gì, củ gì, quả gì, con gì cũng bán được, lại được giá, thêm tiền.

Để chị hai tôi vui ở trong lòng lên một chút, tôi nhọc công sưu tầm các bài báo, các nghị quyết của đảng nước Mynga, biến giả thiết thành hiện thực, soạn thành một bài diễn văn hùng hồn, vinh danh sự đóng góp to lớn cho kinh tế đất nước từ những con đường, nhằm kích thích niềm tự hào cho chị hai tôi:

“Chị hai ơi! Ngay ở vùng đồng bằng cũng vậy, sức mạnh kinh tế do con đường đem lại cũng nhiều vô kể. Tuyến đường từ trung tâm nước Mynga kéo ra biển Sơn Sầm, sau khi đường bộ được mở rộng, nâng cấp, khách du kịch khắp cả nước ào ào đổ về đây tắm biển, du lịch. Nhờ đó mà khách sạn cao tầng các loại, khách sạn dân tộc đủ các kiểu thi nhau mọc lên. Ấy vậy mà, vào thời gian cao điểm của kỳ nghỉ Hè, khách sạn, nhà nghỉ đã không có đủ phòng cho khách thuê”.

Nhưng chị hai tôi nghe xong mặt vẫn lạnh như tiền[4], tinh thần lại tỏ ra mệt mỏi đến mức không thèm nhếch cái miệng khô rốp, thâm xì ra như cười một tí.

Biết diễn văn của tôi chưa đủ sức mạnh làm chị hai tôi cười lên một tí, tôi đánh liều hùng hồn tiếp:

“Ở một nước có cả ngàn cây số đường ô tô cấp tỉnh, cả trăm cây số đường giao thông cấp huyện, xã là một cố gắng đáng kể của ngành giao thông nước Mynga trong mấy chục năm xây dựng chế độ Cò hồn xã nghĩa.

Tuy nó được tạo nên từ chính sức lực cơ bắp của con người, nhưng nó vẫn mở ra điều kiện quan trọng bậc nhất giúp cư dân nước Mynga ta hăng hái phát triển kinh tế, thắp lên ngọn lửa khát khao xóa đói, giảm nghèo cho toàn dân tộc”.

Tôi đã nâng công sức đóng góp cho đất nước của chị hai tôi lên tầm vĩ đại như vậy, nhưng chị hai tôi cứ như đá, như đất im lìm trước bão tố nắng mưa.

Thực tình, khi chị hai tôi còn làm việc ở công trường xa tít tận trên miền Tây đất nước, những lần nhớ chị, tôi thường đứng bên đường ngắm nghía những chuyến xe chạy qua.

Những chiếc xe tấp đầy hàng hóa, những sản vật của miền núi chở về xuôi, hoặc tấp đầy những sản vật của miền xuôi chở ngược lên miền núi, lặc lè bò đi trên con đường, dù còn nhiều gồ ghề, xóc nảy, trong lòng tôi cũng đã ngập tràn niềm vui, xôn xao niềm tự hào về các chị.

Tôi cứ hồi hộp tưởng tượng rằng, những con đường mà xe đã chạy được trên đó, đã ém trong lòng nó biết bao mồ hôi nước mắt và cả máu, thậm chí cả một đời người của những người làm đường như chị hai tôi?

Cứ nhìn mặt chị hai tôi, bao giờ cũng vậy, tôi lại nhớ về những người công nhân như chị với những khuôn mặt sạm nắng gió, với những ánh mắt u buồm lẫn lấp bao niềm tâm sự như từng viên đá lát, ém xuống lòng đường, để con đường cứ thế mà nối dài thêm mãi.

Nhưng chị tôi không sống được đến ngày cùng dân nước Mynga tận hưởng niềm vui này.

Cứ xe chạy qua làng, bụi bốc bay mù mịt phả vào tận buồng nằm mỗi nhà là chị hai tôi lại lên cơn ho sặc sụa.

Chị ho gì mà tiếng khoặc khoặc bật ra cửa miệng chị, tôi còn nghe được cả tiếng, lúc rin rít, lúc lục bục từ trong ngực chị dội ra, giống như tiếng người ta đóng cọc rào xuống đất.

Chị tôi được chạy chữa cả tháng trời ở bệnh viện với thuốc thang các kiểu, nhưng bệnh tình vẫn không thấy dấu hiệu thuyên giảm. Bệnh viện bó tay, đành chuyển chị hai tôi cùng cháu nhỏ về nhà cho gia đình chăm sóc.

Tôi không rõ chị hai tôi mang bệnh gì, là ung thư phổi hay lao phổi, hay cả hai? Người chị lúc nóng, lúc lạnh, khi thì đùng đùng lên cơn sốt. Tẩm bổ các loại cháo, từ gạo, rau, thỉnh thoảng còn có cháo thịt lợn, cháo thịt gà, cháo gì cũng không giúp cho sức khỏe của chị hai hồi phục mà người chị cứ gày còm dần đi. Nước da chị hai tôi từ xanh lét chuyển dần sang xám xịt.

Lay lắt sống cực nhọc như vậy tới ba tháng liền thì chị hai tôi đi. Nhưng chị tôi không đi một mình mà đứa con của chị cũng cùng đi với chị.

Đứa con của chị khi sinh ra đã là một đứa bé không có sức khỏe, nó nhão nhẹt, ẻo lả như người không có xương, cơ và gân.

Chị tôi nói, cháu bị như vậy, có lẽ do thiếu dinh dưỡng hoặc bị nhiễm độc than bụi xi măng ở công trường từ khi chị tôi mang thai. Đã thế, cháu lại mang thêm một căn bệnh không chịu rời mẹ nó, dù chỉ là vài phút đồng hồ. Cứ ai bế cháu rời mẹ là cháu khóc cho đến khi phải đem trả lại cho mẹ cháu bế hoặc nằm cạnh thì cháu mới nín. Thành ra, chị hai tôi đã kiệt sức mà vẫn phải để cho cháu nằm cạnh bên mình để trông nó.

Đầu sáng một ngày tháng Tám mát mẻ, từ phía sau góc chái nhà tôi, bỗng nghe tiếng mẹ tôi khóc ri rỉ, rồi giọng run run, gọi tôi:

“Nhân ơi! Nhanh vào đây, con ơi”.

Tôi mắt nhắm, mắt mở chạy ào vào buồng chị hai tôi.

Tôi thấy chị hai tôi nằm ngửa, mắt còn mở, hai tay vòng trên ngực, ôm chặt lấy cháu bé. Khi mẹ tôi kéo cháu ra thì thấy miệng cháu vẫn còn ngậm chặt vú chị hai tôi, nhưng cháu cũng đã tắt thở.

Tôi bủn rủn cả người.

Hôm sau hai mẹ con chị được đưa ra nghĩa trang.

Mẹ tôi quyết định cho mẹ con chị được cùng nằm trong một quan tài.

Tôi đi sau quan tài cứ miên man nghĩ về chị.

Giá như cha tôi không kiên quyết ngăn chị đi văn công, chị đã là một diễn viên suốt ngày hát những bài ca cách mạng trên loa cho cả nước Mynga nghe. Như thế thì cuộc đời của chị sẽ có kết cục khác. Biết đâu chị hai tôi đã là một xướng ca lừng lẫy, vĩ đại nay hội hè này đón rước, mai đại hội kia công kênh và đặc biệt cái loa treo ở cột xi măng giữa nước, chẳng ngày nọ nối ngày kia vang vang giọng hát hay ngâm thơ của chị hai tôi về chế độ Cò hồn Xã nghĩa Mynga đang ngày một đi lên, ngày một tươi đẹp, rực sáng…

Nhưng bây giờ thì đời chị hai tôi đã thực sự kết thúc rồi.

Mẹ con chị được đưa ra nghĩa trang mà chẳng có tiếng khóc nỉ non nào giành cho mẹ con chị.

Trời đất hôm đưa tiễn mẹ con chị hai tôi ra khu sinh phần của nước Mynga có phần kỳ lạ. Không gian đang tĩnh lặng, thoang thoảng gió Thu, bất ngờ gió Đông Bắc giá buốt ào ạt đổ về. Tiếng xào xạc của lá cây úa vàng bỗng theo gió Đông Bắc, bay tơi tả, bay loạn xạ trước quan tài của mẹ con chị hai tôi. Khí lạnh từ mặt đường cũng bốc lên mờ ảo như sương. Chiếc quan tài chứa hai mẹ con chị cứ lắc đi lắc lại trên chiếc xe tang. Trời ơi! Chị hai tôi đã hiến cả đời mình cho sự nghiệp đem đất đá lát đường cho xe chạy, cho người đi mà nay chị hai tôi đi sao cái xe tang cứ rung lắc hoài vậy Trời?

Chật vật lắm mới đưa được quan tài hai mẹ con chị ra đến khu sinh phần.

Đội quản lý khu sinh phần trân trọng đón quan tài của mẹ con chị hai tôi và nhanh chóng đưa ra cái huyệt đã đào sẵn.

Thế là hết một đời ngắn ngủi của chị hai tôi.

Cảm giác mọi vật rồi cũng phải tìm đến cái chết chợt xâm chiếm lòng tôi.

Như một kẻ mộng du, tôi cúi xuống sờ vào mặt đường, thử cảm xem, nước mắt, mồ hôi, và cả tính mạng của hàng vạn con người đang nằm ở đâu trên từng mét đường cát, đá, sỏi, xi măng này! Trong đó, đâu là nơi ém lại máu, mồ hôi, nước mắt của chị hai tôi?

Ôi, cái dòng đời tất tả luôn trôi qua, cuốn đi, chảy đi, và xóa đi, quên đi chỉ như đất lạnh, đường trơn và vô tư như đất, đá, cát, sỏi thế này chăng?

Tất cả rồi sẽ bị thời gian phủ bụi lên chăng?

Tất cả rồi sẽ bị lãng quên chăng?

Tự nhiên, tôi nghe tim tôi thổn thức và nó như đang lắng nghe từng bước chân của tôi đang bước lập cập trên con đường lởm chởm những ổ trâu, ổ bò, sỏi, đá.

Tôi nghe thật rõ ràng những âm thanh từ sâu thẳm lòng đất dội về khi chân tôi chạm vào mặt đường ấy.

Những âm thanh của tiếng cười, tiếng khóc, tiếng thở dài trong những đêm thao thức, trong những đêm cô đơn của các chị với những ngậm ngùi tự thán mãi về câu chuyện chồng con.

Tất cả giường như đã ém xuống đâu đây trên con đường này, để bây giờ, tôi đưa tiễn chị hai tôi về cõi vĩnh hằng, những âm thanh đó như hơi tôi thở, như tim tôi đập, như máu tôi chảy, như mồ hôi tôi rỏ xuống… bung bung dội về…

Ôi đất mẹ Mynga ngàn năm lăn lóc.

Ôi đất mẹ Mynga ngàn năm khổ ải.

Ôi tiếng đau nghẹn nấc của mẹ tôi:

Lá vàng còn ở trên cây

Lá xanh rụng xuống, Trời ơi, hỡi Trời[5]

[1] Câu nói của ông Tôn Trung Sơn bên Trung Quốc.

 [2] Nguyên văn: “Thương nữ bất tri vong quốc hận/ Cách giang do hát Hậu Đình Hoa”.

[3] Câu trong sách “Ấu học ngũ ngôn thi” của Trung Quốc

[4] Thành ngữ Việt Nam.

[5] Ca dao Việt Nam.

5 phản hồi to “Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 26.”

  1. Tin thứ Bảy, 12-07-2014 « BA SÀM Says:

    […] Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 26. 11/07/2014 […]

  2. ***TIN NGÀY 12/7/2014 -Thứ Bảy. « PHẠM TÂY SƠN Says:

    […] với kẻ mạnh, lên mặt với kẻ yếu  -( Nguyễn Văn Tuấn FB)   —  Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 26. […]

  3. Anhbasam Điểm Tin thứ Bảy, 12-07-2014 | doithoaionline Says:

    […] Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 26 […]

  4. xe moto bmw gia re Says:

    xe moto bmw gia re

    Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 26. | Bà Đầm Xòe

  5. Lam Says:

    thua Bac,chau ngoi copy mai toi chuong 26 ma nan qua,Bac co the cho chau 1 quyen doc duoc khong a…?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: