Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 25.

Phạm Thành

25.

Cha tôi là người sống rất có nguyên tắc. Tôi làm bài tập sai đến lần thứ hai là cha tôi nhất quyết phạt tôi. Cha tôi dùng roi cứ nhè vào bàn tay tôi mà dần. Chữ tôi viết nức tiếng đẹp cũng từ cái roi dần tay ấy của cha tôi mà ra. Mợ Cúc bị cha tôi từ mặt, cũng từ nguyên tắc sống này của cha tôi mà ra .

Hồi mợ sinh đứa con hoang thứ nhất với Hò Văn Đản, cha tôi đã rất khó chịu rồi. Nhưng cha tôi cũng cắn răng cho qua.

Khi mợ sinh đứa con thứ nhất được khoảng một năm thì cậu Thắng tôi từ mặt trận Điện Biên, được trên cho nghỉ phép mấy ngày, về thăm nhà. Thấy vợ mình đã có con, mặt cậu tôi buồn thỉu, buồn thiu, khăng khăng đòi ly dị.

Nhưng cha tôi khuyên cậu: “Không nên thế”. Tôi, cũng chẳng biết từ đâu mà giống cha tôi mong cậu Thắng tôi đừng bỏ mợ Cúc.

Tôi nói với cha tôi:

“Mợ Cúc hay cho con ngô, lạc cha ạ. Cha đừng đồng ý cho cậu Thắng bỏ mợ”.

Thấy tôi có tình cảm với mợ, cha tôi trong lòng như được tự tin hơn khi khuyên cậu Thắng không nên bỏ mợ, vì mợ thành thật thú nhận mợ bị hiếp dâm chứ chẳng phải khát thèm gì mà thông dâm hay dâng hiến cho Hò Văn Đản. Cha tôi nói xa xôi rằng, mặc dù mợ Cúc không muốn, nhưng việc Hò Văn Đản hiếp mợ, cũng có thể xem là việc làm mang lại cơm ăn, áo mặc cho mợ và cho mẹ cậu Thắng, vì mỗi năm có hai vụ thu hoạch mùa màng, mỗi vụ Hò Văn Đản cũng tìm mọi cách ăn cướp, ăn cắp của hợp tác xã chia thêm cho mợ vài tạ thóc, tạ khoai. Nhờ khoai thóc đó mà mẹ cậu còn sống được đến ngày cậu về gặp. Vì vậy, hành vi hiếp dâm của Hò Văn Đản, cũng không thể chỉ còng cộc hiểu là vô đạo đức.

Để cậu Thắng thực sự thấm sâu về việc làm đạo đức này của mợ, cha tôi còn đem Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du ra đọc và giảng giải cho cậu tôi nghe, rằng, nàng Kiều xinh đẹp, nét na vô cùng, nhưng vì mẹ, vì cha mà phải bán mình đến chốn lầu xanh, ngày nay được những nhà lý luận phê bình văn chương Mác xít ở nước Mynga ca ngợi, trở thành quốc đức cho cách mạng, cho nước Mynga mới rồi.

Mợ Cúc, tuy không xinh đẹp như cô Kiều, nhưng cũng là người phụ nữ xinh đẹp nhất nước Mynga, còn nết na có kém gì nàng Kiều. Hơn nữa, nàng Kiều ở lầu xanh, quan hệ có đến cả trăm ông, trăm thằng mà cái anh Kim Trọng đã làm quan, có thiếu gì gái đẹp, ấy nhưng vẫn treo ấn, từ quan để đi tìm cái thứ nhụy rửa, hoa tàn đó, nữa là… cậu. Cậu lại là người chiến sĩ cách mạng, vừa thắng ở mặt trận Điện Biên trở về.

Cậu Cao Thắng cũng là người có chữ, cha tôi đem cô Kiều ra bàn, làm cho cậu tôi hứng thú.

Cậu thổ lộ tâm can:

“Chẳng biết sao khi nghe anh tôi nói nói câu “Cậu là người chiến sĩ vừa thắng ở mặt trận Điện Biên về”, tự nhiên trong đầu tôi hiện lên hình ảnh chiến trận với súng nổ, đạn bay, khói tỏa mịt mùng và la liệt những xác chết chồng lên nhau, làm tôi hoảng hồn; làm tôi mê mụ đi trong ý niệm: con người rồi ai cũng phải chết. Mà chết thì là hết. Biết đâu là cái chết có ý nghĩa cho ngày mai, không có ý nghĩa cho ngày mai?”.

Cậu Thắng còn rên xiết:

“Chả biết tay tướng nào thiết kế trận đánh này, nó là người hay ác thú mà đang tâm thiết kế lối đánh dùng biển người để chặn hỏa lực của địch tàn bạo như vậy. Cách đánh này có khác chi xem những thanh niên trai tráng nước Mynga như bầy ngan, bầy vịt, cố lùa họ ào ào xông lên trước mũi súng trung liên, đại liên đang vãi đạn ra như trấu của kẻ địch. Lớp người trước ngã xuống, lớp người sau lại được lệnh tiến lên, đến mức súng của địch bắn ra đỏ rực cả nòng, đến viên đạn bắn ra cũng phải rơi ngay nơi đầu họng súng, thì lớp xung phong tiếp sau mới xông lên được. Trời, chi mà chết nhiều rứa. Tôi cũng đọc sách nhiều mà chưa từng thấy sách nào có cái kiểu bày trận đánh nhau, một bên là hỏa lực mạnh, một bên lại đem lớp lớp mạng người ra bịt hỏa lực, quyết giành cho được chiến thắng. Rùng rợn lắm. Không ở chiến trường, không ai có thể tưởng tượng ra được đâu. Chết chi mà chết lắm rứa. Nước ta chỉ cần có hai trận đánh thắng như vậy, chẳng biết rồi khi thắng trận, dân tộc có còn sinh lực sống nữa hay không?”.

Vì trong đầu cậu hiện lên những hình ảnh người chết như ngan, như vịt ấy mà cậu Thắng không quyết liệt đòi bỏ mợ Cúc nữa. Thậm chí cậu còn cười một cách bẻn lẻn, hu hơ, giống như những linh hồn chết tươi rói đang vất vưởng nơi trận mạc còn chưa kịp ngậm cười thì đã bị hỏa lực của địch bắn cho tan xác.

Tối hôm ấy, tôi thấy cậu Thắng vào buồng ngủ chung với mợ Cúc và một tuần sau cậu lại khoác ba lô trở về quân ngũ.

Cậu Thắng tôi không bỏ mợ Cúc nữa. Không biết cha tôi có lấy việc này làm vui hay không, nhưng tôi thì muốn la lên cho toàn dân Mynga nằm lòng một sự thật:

“Hoan hô bà Kiều. Bà là con đĩ trong chế độ phong kiến, nhưng nay trong chế độ mới Cò hồn Xã nghĩa, bà không những trở thành quốc đức của chế độ mới mà bà còn trở thành gia đức của nhà tôi.

Hoan hô cha tôi đã hàn gắn thành công một tình yêu mang tinh thần Cò hồn Xã nghĩa“.

Rồi sẵn tinh thần đang bốc hỏa trong đầu, tôi đọc toáng thơ của cụ Tố Hữu lên:

…Răng không cô gái ( gái điếm –P.T) bên sông

Ngày mai cô lại từ trong tới ngoài

Thơm như hương nhụy hoa nhài

Trong như nước suối ban mai giữa rừng[1]

Trời đất. Nhụy rửa, hoa tàn sao có thể lại tinh khôi nguyên chất được!

Tuy thích và la toáng lên cho bàn dân thiên hạ nước Mynga biết như vậy, nhưng tôi cũng thấy có cái gì đó như là miệng tôi vừa nhai phải củ khoai ráy. Ấy thế mà cha tôi còn như không biết ngượng, tự tin nói với nhiều người:

“Ở cái thời nhiễu nhương sấp ngửa, loạn nhân này, đàn ông đi vắng cả, đàn bà, con gái không chửa hoang với chó với mèo, cũng đã là may mắn lắm rồi”.

Nhưng khi mợ Cúc đẻ thêm đứa con hoang thứ hai, cha tôi nhất quyết không cho mợ đến nhà tôi nữa. Ngày giỗ ông ngoại, cha tôi cũng cấm cửa, mợ phải đứng ở ngoài bờ rào bái vọng vào.

Từ đó, tôi thấy mợ ít nói cười hẳn đi. Đối với mợ, đấy là nỗi đau nhất trong đời mợ. Trong lòng mợ, người mợ tin yêu, kính trọng nhất là cha tôi. Ấy vậy, ngày giỗ cha chồng mợ, mợ muốn đến thắp hương cũng không được thắp. Cha tôi công khai chửi mắng mợ:

“Hồi Cải cách, mi đấu cha mi, vì mi còn nhỏ tuổi chưa biết gì, cả họ tha cho mi. Đến khi mi đẻ hoang một đứa, cả họ cũng thể tất chồng mi đi lính mà tha cho. Đã không biết hối hận, sửa mình, mi lại cứ ngựa quen đường cũ[2] dấn sâu vào tội lỗi. Tha mi mãi đâu có được. Làm đĩ mãi, đâu có được”.

Có lần tôi nghe cha tôi nói chuyện với bác tôi:

“Cái bọn vô học đó, hắn vào nhà mình nhiều, thì cái họ Phạm danh giá bao đời, rồi có ngày không còn nhận ra được nữa, anh ạ”.

Bác tôi nghe cha tôi nhỏ to về chuyện này mắt lúc nào cũng căng lên, mặt lúc nào cũng cau có và tay thì cầm cái ba toong đập liên hồi xuống sàn nhà gạch, nghe côm cốp:

“Cái bọn mèo mả, gà đồng ấy phải đem đập chết hết, làm phân bón, chúng nó mới chừa. Chú nói làm gì cho bẩn tai tôi”.

Hai lần mợ Cúc chửa hoang, cả hai lần tôi thấy sắc mặt mợ cũng không đến nỗi nào. Má mợ vẫn hồng hào, bầu vú mợ vẫn căng tròn, mọng sữa. Trong nhà mợ thỉnh thoảng lại vang lên tiếng ru con nỉ non sầu thảm như trong lòng mợ đang giằng co nhiều nỗi niềm.

Từ khi mợ bị cha tôi từ mặt, nhất quyết không cho đến nhà tôi nữa, làm mợ đau lòng. Mợ lo, từ nay không được cha tôi dạy dỗ, che chắn như lần chửa hoang trước nữa. Không biết rồi cậu Cao Công Thắng nhà tôi đi đánh trận về, tình thế sẽ ra sao, chứ không được gửi giỗ ở nhà họ Phạm thì có khi lại là cái may. Họ Phạm, trước đây có người làm quan, có người đi làm cách mạng, có người đứng đầu cách mạng, nhưng nay đang bị chính quyền xếp vào sổ đen. Hò Văn Đản nhiều lần nhắc nhở mợ thế, dọa dẫm mợ thế. Nay, biết cha tôi từ mặt mợ, Hò Văn Đản và đám lãnh đạo của chúng mừng ra mặt. Từ nay, mấy thằng được tự do thả cửa đến với mợ. Con người mợ thay đổi hẳn. Mợ thành một người khác mà đấng tạo hóa có mơ cũng khó mà tưởng tưởng ra được.

Hình ảnh mợ xinh đẹp, hiền lành, nhanh nhẹn như một con mèo, luôn tay, luôn chân, coi việc thiên hạ cũng như việc nhà mình cứ mờ dần hẳn đi trong tâm trí người dân nước Mynga. Công việc đầu tiên, Hò Văn Đản giao, mợ vui vẻ nhận làm là làm chân thủ kho hợp tác xã và chăn nuôi hai con bò đực giống.

Bò đực giống là công cụ nhử tình của Hò Văn Đản. Còn chân thủ kho:

Với một chế độ làm chung, nhưng ăn riêng thì dù ở một đơn vị kinh tế nào, chân thủ kho vẫn là cái chức ngồi mát, ăn bát vàng[3].

Nhiều ông, bà đảng viên giữ chức sắc trong bộ máy chính quyền khi luống tuổi rất thích cái chức nho nhỏ này. Nhưng, nước bây giờ là nước của Hò Văn Đản. Hò Văn Đán đã muốn thì không ai có thể chống lại được. Với lại, Hò Văn Đản còn huấn thị:

“Thím Cúc là vợ bộ đội đang tại ngũ, lại có tiếng là thật thà, tháo vát, không phải thím ấy thì kiếm được ai xứng đáng hơn thím ấy làm chân thủ kho của nước bây giờ?”.

Kho của của nước Mynga cũng như bao kho của của các nước Xã nghĩa khác, luôn là nơi chứa của cải, lương thực, thực phẩm của xã viên mang đến nộp và của cải đem từ ngoài đồng về, đủ loại, nào là thóc, khoai, ngô, lạc, vừng khi mùa màng đến kỳ thu hoạch. Nhưng chỉ có thu hoạch thì thủ kho cũng chưa có vai trò gì. Vai trò của thủ kho chỉ quan trọng khi mùa thu hoạch đã vãn và kết thúc mùa vụ. Nghĩa là, thóc, khoai, vừng, lạc… thu hoạch ngày nào thì cán bộ hợp tác xã tạm chia hết cho xã viên ngày ấy để cứu đói trước mắt. Nhưng đến giữa vụ và cuối vụ thì không phải như vậy. Hợp tác xã cần phải giữ lại sản phẩm, tấp chúng vào trong kho:

Một là để nộp thuế cho nhà nước.

Hai là để làm giống cho mùa sau.

Ba là để cân đối thừa thiếu hoặc chia thêm cho những hộ xã viên còn chưa nhận đủ theo công điểm.

Bốn là để dự phòng cứu đói cho tháng Ba hoặc ngày Tám.

Năm là dành cho hội họp, liên hoan phát động mọi loại phong trào sản xuất, phong trào văn hóa thể thao, phong trào thanh niên nhập ngũ, đi Thanh niên xung phong, đi Dân công hỏa tuyến, vân vân.

Lượng sản phẩm này thường chiếm tới sáu mươi phần trăm sản lượng thu hoạch.

Nước Mynga có mấy chục vạn héc ta đất canh tác, sáu mươi phần trăm sản phẩm giữ lại trong kho, cũng là một khối lượng lớn.

Trong kho đầy khoai, đầy thóc, vì vậy được quản cái đống tài sản đó, ai cũng thèm khát, là vì thủ kho là người giữ chìa khoá của một đống tài sản đó. Chỉ có thủ kho mới được quyền đóng, mở cửa kho; lúc xuất sản phẩm cho người này; lúc nhập sản phẩm cho người kia; gánh đi, gánh về; chả mấy ai biết gánh nọ, gánh kia là lương thực, thực phẩm gì và cán bộ phân phối cho ai? Nó là cái gì chỉ có cán bộ và thủ kho biết. Cán bộ muốn khua khoắng thêm, nhất nhất phải qua tay thủ kho thì sản phẩm mới có thể vào buồng riêng của nhà cán bộ được. Thủ kho mà đồng ý thì việc cán bộ trộm cắp mới hanh thông, không đồng ý mà cán bộ muốn trôm chĩa có khi không thực hiện được.

Từ đó nước Mynga Xã nghĩa xuất hiện câu thành ngữ: Thủ kho to hơn thủ trưởng[4] cũng là bằng chứng chứng minh tính Biện chứng tính Khách quan của luận thuyết Mác xít: Ngôn ngữ loài người sinh ra từ lao động.

Từ ngày làm thủ kho, nhà cửa của nhà mợ được xây tường, sân thì lát gạch, khang trang. Đặc biệt, trong buồng nhà mợ, cái chum, cái vại, cáí bồ luôn đựng thóc, ngô, khoai, đậu không lúc nào cạn tới đáy, khác hẳn mọi nhà, chum bồ chỉ đầy lương thực được vài tháng sau mùa thu hoạch. Hơn thế, tháng Ba ngày Tám, năm nào nhà tôi cũng đói ăn, năm nào cũng phải ăn sắn, ăn cháo, ăn rau cầm lòng. Có năm rau cũng chẳng có mà ăn.

Riêng nhà mợ và nhà cán bộ thì không thế.

*

Khủng khiếp nhất là nạn đói của những năm một chín tám mươi. Cả nước Mynga, dân tình đâu đâu cũng đói. Nguy cơ hàng loạt người hàng nối hàng đi theo cha mẹ, ông bà, anh em như trong vụ đói năm Ất Dậu – Một chín bốn lăm luôn rạo rực trong lòng mọi người.

Rau má cầm hơi mọc ở ven bờ sông Cầu Chày, ven chân bờ đê, ven các mương phai, bờ ruộng cũng đã được cái đói tìm đến cào bới sạch sành sanh. Ngay cả cây cỏ mật, cỏ diệu cũng không còn. Trên cánh đồng chỉ còn cộm lên những luống khoai lang hạ dây mới độ hơn một tháng.

Chẳng biết lấy cái gì cho vào bụng, đắp điếm qua ngày, mắt người dân đổ dồn vào những luống khoai lang, lá non xanh rì với những cái ngọn mập mạp đang thi nhau vươn lên mơn mởn. Nhìn dây khoai cứ bò dài ra với những ngọn non mơm mởn, lá xanh ngời ngời, như miếng mồi ngon trêu tức cái đói lúc nào cũng sôi ùng ục trong bụng mỗi người dân nước Mynga.

Lãnh đạo nước Mynga biết dân đói, có thể làm liều, bất kỳ lúc nào cũng có thểxông ra hái trộm lá, ngọn khoai nên đã đề phòng cắt cử người đóng chốt tại ruộng, canh gác cả ngày lẫn đêm rất cẩn thận.

Hò Văn Đản hy vọng, Hò Lê Đỗ Đoàn cùng đoàn cán bộ chủ chốt nước Mynga được cử đi nước ngoài mua lương thực sẽ kịp đem lương thực về cứu đói cho dân. Nhưng chờ mãi, chờ mãi vẫn không thấy đoàn đồng chí mang lương thực về, trong khi cái đói mỗi ngày một áp sát mạng sống từng người dân, làm lãnh đạo nước Mynga lo lắng bội phần.

Nhưng rồi Hò Văn Đản nhận được tin, lương thực cứu đói không về đúng như đã hẹn, vì lương thực cứu đói đã được Hò Lê Đỗ Đoàn cùng những người đồng chí đi mua, mua được nhưng lại bán cho nước khác để kiếm lời rồi. Mục đích là để đoàn đồng chí có thêm tiền, mua thêm lương thực, rồi sau đó mới đem về cứu đói cho dân Mynga.

Một sự năng động chết người. Nó cũng là một thứ Biện chứng ngược chờ đẻ, đợi trăng lên[5] mà dân nước Mynga đã tổng kết.

Nhận được tin như vậy, biết lương thực cứu đói không về kịp, lãnh đạo nước Mynga tức tốc mời lãnh đạo các đoàn thể đến họp bàn, đưa ra quyết định cho mỗi nhà hai người, đúng một giờ ba mươi chiều, ngày D, sau khi lệnh kẻng của hợp tác xã vang lên thì được đồng loạt được ra đồng hái lá rau khoai lang đem về cứu đói.

Được thông báo của lãnh đạo, giữa trưa hè tháng Tư năm ấy, nóng nực làm kẹt hẹt cả tiếng ve sầu, nhà tôi, gồm mẹ tôi, chị hai tôi, bụng đói rát, mặc cho cái nóng giữa trưa gay gắt, cứ ngồi trực ở đầu cổng, sẳn sàng đợi lệnh kẻng vang lên là xông ngay ra đồng hái lá rau khoai lang.

Đúng một giờ ba mươi chiều, lệnh kẻng cứu đói liên hồi của nước Mynga vang lên, giục dã, mẹ và chị hai tôi vội vàng co chân chạy thẳng ra cánh đồng khoai.

Sau khoảng nửa tiếng đồng hồ, lệnh kẻng liên hồi của nước Mynga lại vang lên, báo hiệu giờ hái rau khoai lang đã hết.

Mẹ tôi, chị hai tôi ton tả bê rổ rau khoai lang về, trên người đầm đìa mô hôi, ướt sũng cả quần lẫn áo.

Chị hai tôi vừa thở, vừa trách như khóc với mẹ tôi:

“Con bảo mẹ đem liền đi mà bứt có phải đầy cái rổ này rồi không? Mẹ cứ bảo khoai đang ra củ non, bứt cả lá cả dây thì củ nó làm sao mà lớn được. Mẹ thấy có nhà nào lại không mang liềm đi?”.

Mẹ tôi, mặt cũng đầm đìa mô hôi, nói trong hơi thơ gấp gấp bởi cái nóng ngột ngạt của trưa hè tháng Tư và cái đói cứ giữ chặt hơi ở trong bụng của mẹ tôi lại.

“Kệ cha nhà… chúng nó. Chúng nó làm điều… ác, có ăn cũng không nuốt… nổi đâu”.

Chị hai tôi chừng như không thấu lời nói đạo đức của mẹ tôi nên chị cứ bệt đít ở hiên hè, ri rỉ khóc.

Bổng lúc ấy tôi nghe ngoài đồng khoai tiếng Hò Văn Đản hét lên vang vọng cắt những lời đạo lý của mẹ tôi:

“Đánh bỏ mẹ thằng nào kia. Kẻng báo về từ lâu mà vẫn còn bứt. Bứt cái đéo gì mà bứt lắm thế”.

“Đã đéo được ai mà lắm”, tiếng thày giáo Hà Độ đáp lại.

“Đéo cái mả cha nhà mày”, tiếng Hò Văn Đản sang sảng. “Có về không thì bảo? Ai cho mày cái quyền đi hái rau ở đây?”

“Thì về”, thày Hà Độ xuống giọng. “Thì cũng để cho người ta đủ một nồi canh đã chứ. Tao hái thay quyền của vợ con tao không được à?”.

“Không về ngay tao hô dân quân gô cổ mày lại bây giờ”, Hò Văn Đản lớn tiếng dọa.

Thày giáo Hà Độ đứng lên, nhìn lên phía đồng trên thấy một đoàn cán bộ tay cầm cuốc, cầm gậy, cầm cờ đỏ búa liềm đang đuổi một toán người cũng đang lom khom cố bứt thêm một ít lá rau khoai lang nữa.

Khi những người cuối cùng rời khỏi ruộng khoai lang, cánh đồng im phăng phắc trở lại trong cái nắng chang trang của trưa tháng Tư.

Những luống khoai bây giờ trơ ra trông giống những con trăn dài nằm ườn mình với một hàng lá xanh nham nhở như lá ngụy trang vội vàng cắm trên lưng nó.

Chẳng biết đến lúc thu hoạch, liệu những giây khoai lang kia có cho củ nữa không?

Khi mẹ tôi và chị tôi vẫn còn đôi co và khóc về chuyện đem liềm đi bứt rau khoai thì mợ Cúc xuất hiện bên hàng rào. Mợ ho khan vài tiếng, rồi gọi mẹ tôi, giọng nho nhỏ:

“Bác ơi! Ra em bảo này”.

Mẹ tôi chạy ra bờ rào gặp mợ.

Mợ thì thào với mẹ tôi:

“Bác cầm lấy rổ lá khoai này. Nhà em có đủ rồi”.

Biết nhà mợ không đói như dân Mynga đói, mẹ tôi đưa tay qua bờ rào đỡ lấy rổ khoai lang của mợ.

Khi mẹ tôi đem rổ rau lang về nhà, bơi ra thì ở dưới những lá khoai lang là nửa rổ lạc và khoai lang thái lát đã khô.

Mẹ tôi lặng đi, vội cào lá khoai lang trên mặt rổ phủ lại, như sợ có ai nhìn thấy mẹ tôi vừa ăn cắp của ai đó một vật gì.

Thật ra, từ ngày mợ Cúc làm thủ kho, thỉnh thoảng mợ lại dấm dúi cho mẹ tôi, khi thì vài bò lạc, vài bát vừng, dăm ba bò gạo, như vậy là chuyện thường.

Mặc dù cha tôi không cho mợ gửi giỗ nữa nhưng trong lòng mợ lúc nào cũng quý, cũng trọng cha tôi. Vì lỗi mà cha tôi từ mặt là ở mợ mà ra.

Mợ cũng hiểu rằng, nếu cha tôi không từ mợ mà đối xử với mợ bình thường thì cả nước Mynga sẽ coi thường cha tôi như là kẻ có học, có đạo đức mà dung túng cho cái bọn đĩ bợm, tà dâm.

Mợ hiểu điều này và không hề có mảy may oán trách cha tôi. Thành ra, mẹ tôi, các anh chị em nhà tôi vẫn thường sang nhà mợ chơi.

Hồi mợ nghe Hò Văn Đản xúi đểu dẫn đến mợ căm tức mà đấu cha mợ, làm mợ hối hận bỏ ăn mấy ngày liền, nằng nằng đòi tự tử. Khi cha mợ vì không thể chịu nhục được hơn, xấu hổ được hơn đành lặng lẽ vào núi Nội, tự mình giam mình trong hang tối nhiều ngày rồi chết, làm mợ phát phẫn, phát điên. Rồi đến khi mẹ mợ nhớ chồng, thương chồng lao đầu vào vách núi mà chết; bác tôi chỉ vì thương cha tôi bị Đội Cải cách hành hạ dã man, đến hộc máu mồm ra mà chết, mợ cũng thương xót nẫu lòng.

Mợ cũng âm thầm khóc bác tôi như cha tôi khóc bác.

Mợ hay nói với mẹ tôi:

“Bác cả ngày xưa toàn xơi của ngon vật lạ, quen dạ rồi, nay có gì ăn nấy, chịu sao được với khoai, ngô, sắn, làm gì mà bác cả chả chết”.

Mợ thì thào với mẹ tôi mà trên mắt mợ lần nào cũng giàn giụa nước mắt.

Sự thật, sau khi bác giáo Mai bị thủ tiêu, danh nhân trong nước chỉ còn lại có cha tôi. Khi nước Mynga là nước toàn tòng hợp tác xã thì cha tôi mới ngoài bốn mươi tuổi, nên cơ thể còn có thể hoà đồng với ngô, khoai, sắn và chịu được cảnh có gì ăn nấy, nên chưa đến nỗi như bác tôi không nuốt nổi khoai, sắn mốc. Nhưng nhìn cha tôi ăn khoai khô nấu khô trong nồi, rồi nắm lại thành cục để ăn, lần nào cũng nghẹn lên nghẹn xuống, mợ rất hay than thở:

“Bác cả đời đọc sách, lắm chữ nghĩa, lẽ ra phải là ông nọ bà kia mới xứng. Bác không phải người lao động chân tay, ăn khoai, ăn sắn làm gì mà không nghẹn”.

Mợ thì thào với mẹ tôi mà trên mắt mợ đã giàn giụa nước mắt tự khi nào.

Mẹ tôi không từ mợ, ghét bỏ mợ là vì những chuyện vặt vảnh mà mợ thường chia sẻ với mẹ tôi và còn cả những củ khoai, củ lạc mà mợ thường đem cho mẹ tôi nữa. Nhưng cha tôi không phải là đàn bà như mẹ tôi, nên dù mẹ tôi khen mợ Cúc tốt như thế nào, cha tôi cũng quyết không cho mợ gửi giỗ ông ngoại ở nhà tôi nữa.

Tôi cũng là người không ghét mợ.

Tôi khỏi bệnh tật rồi theo năm tháng lớn lên, tôi cũng luôn nhớ ơn mợ.

Ngoài cái bầu vú to tròn của mợ, cái mông trăng lốp nâng lên hạ xuống của mợ, còn có tình chăm chút của mợ cho tôi nữa. Mợ thỉnh thoảng cho mẹ tôi mớ khoai, bát gạo đã đành, mợ còn cho riêng tôi nhiều lần, nhiều thứ. Mợ nhiều lần cho tôi đi theo mợ vào kho của nước Mynga kiểm tra sản phẩm tích trữ trong kho.

Khi ở trong kho, bao giờ mợ cũng bảo tôi đến với cái chum đựng khoai, đựng lạc.

Mợ dặn:

“Cháu cứ ăn chán, ăn chê, nhưng đừng bỏ túi đem về nhà. Mùa này không phải là mùa lạc, không nhà ai còn, nếu cháu đem ít củ về nhà, trong nước mà có người thấy thì, thế nào họ cung nghi ngờ. Cháu cứ ăn chán, ăn chê ở đây thôi”.

Thành ra, tôi ăn quen bén mùi, hễ khi nào tôi đói không còn chịu được là tôi lại mò sang nhà mợ. Mợ thấy mặt tôi buồn thiểu, buồn thiu, không cười không nói, ruồi đậu trên mũi cũng không thèm xua đi, là mợ biết tôi đang cần gì. Thế nào mợ cũng cho tôi một nắm khoai khô hoặc củ khoai luộc, một nắm lạc hay một cái gì đó có thể ăn được vào bụng.

Được mợ chăm sóc nên tôi rất hay bám đít mợ. Lâu dần thành thói quen. Nhiều khi tôi theo mợ mà mợ cũng không hay biết.

Có lần tôi vào nhà kho với mợ và ngủ quên qua đêm ở đó mà mợ cũng không hay.

Vì thỉnh thoảng ngủ quên ở trong đó mà có lần tôi thấy con cá chuối khoang trắng ba vòng của Hò Văn Đản thúc ngược vào mông mợ khi mợ đang cúi đầu nhìn vào cái chum đựng lạc.

Nhưng từ khi cha tôi từ mợ, tôi cũng ít sang nhà mợ hơn, cũng còn là vì tôi đã lớn, còn là vì Hò Văn Đản và các đồng chí của ông ta thường ghé lại nhà mợ nhiều hơn. Vì thế, sự qua lại của tôi đối với nhà mợ cũng ít dần đi.

Hình ảnh cả nhà mợ chạy sang nhà ông ngoại tôi tránh bão năm nào, qua lời mẹ tôi kể, cũng nhạt nhòa dần đi.

Qua năm, qua tháng, nhờ sự dọa nạt, buộc phải lệ thuộc vào miếng cơm, manh áo vào Hò Văn Đản và đám đồng chí của ông ta mà mợ trở thành một người khác hẳn.

Tuy mợ trở thành người khác hẳn nhưng tình cảm của tôi với mợ chỉ thay đổi có ít nhiều.

*

Ôi, cái trưa cả nhà tôi tập trung lắng nghe lệnh kẻng, rồi mẹ và chị hai tôi phăm phăm chạy thục mạng ra ngoài đồng bứt lá khoai lang cứu đói, còn đọng mãi trong óc, tim tôi.

Tôi coi đó là giờ phút thiêng liêng của một đời người trong cuộc đấu tranh với con người và đất nước Mynga để giành lấy cái sống.

Đó là lý do để tôi thường xuyên sờ vào cái chim giống của tôi, giường như để kiểm tra xem nó có bị ngắn đi không? có bị teo tóp đi tí nào không? Tương tự như mẹ và chị hai tôi lựa từng bộ phận của dây khoai lang, đâu là đoạn mụt, đâu là đọan dây già, đâu là lá bánh tẻ, đâu là là vàng cho nó có nắm, có mớ riêng giẻ. Bởi sau bữa ăn rau khoai lang chiều hôm đó, tôi đi đái thì thấy nước đái phun ra thật dễ dàng, chỉ tội là nước nó đen xỉn như người bị cảm sốt phải uống lá nhọ nồi mà có vậy.

Thế là tôi rõ thêm một điều, người mà ăn nhiều lá hay ngọn, hay dây khoai lang, có thể sẽ sinh bệnh. Không sinh bệnh chỉ có thể là những con lợn ỉ sống cùng phân cứt ở trong một cái chuồng.

Chẳng biết dân Mynga có ai biết điều này không?

Bác sĩ Minh Quân nữa, có biết điều này không?

Riêng tiiu, tôi thường nghĩ đến những âm thanh giục giả người ta ra đồng làm việc từ cái lệnh kẻng.

Keng, keng, keng…, lệnh kẻng vang lên khi bình mình mới ló rạng, hối hả gọi người tập trung đi làm. Đi làm, ôi đi làm! Những xã viên đi ra đồng ruộng nhất nhất trên vai phải vác cuốc, vác cày, dù cày cuốc chỉ mang tinh thần làm được chăng hay chớ, cây có lên xanh hay không? có phát triển bình thường hay không? có ra hoa ra quả hay không? không cần biết.

Keng, keng, keng…, lệnh kẻng vang lên thúc giục mọi người rủ nhau đi họp tổ, họp đội. Ôi họp tổ, ôi họp đội. Khi ra đồng thì mọi người đồng lòng chuyện trò dưa lê hay tiếu lâm nắc né thoải mái, tối về họp đội, họp tổ, cứ điểm mặt mà ghi công điểm. Có khi còn tranh giành, mắng nhiếc nhau về công điểm mà không mấy ai quan tâm đến cái công bỏ ra ất ơ như vậy thì cây trồng làm gì có hạt, có củ để mà thu hoạch, để mà chia chác cho nhau.

Một cách tổ chức sản xuất, quản lý kỳ lạ, ngu dốt.

Hẳn là đói còn dài dài.

Hẳn là đau khổ của nước còn dài dài”.

Keng, keng, keng…, lệnh kẻng vang lên giục giả trẻ em đến trường để học cái luận thuyết về thế giới đại đồng, về trận chiến cuối cùng giải phóng toàn bộ loài người của những người Cộng sản; về Mác về Lê vô địch, muôn năm và hít ngửi mùi no ấm; đồng thời nhất nhất phải học cách nguyền rủa kẻ thù và noi theo gương sáng đảng viên.

Keng, keng, keng…, lệnh kẻng vang lên báo hiệu không ai ra đường, thúc dục mọi người lên giường đi ngủ, quán triệt cho toàn dân tinh thần thường trực sẵn sàng chống bạo loạn; áp tải đám thanh niên vác súng lên đê tập bắn diệt đồn bốt, bắn thằng Mỹ, thằng Ngô Đình Diệm và bọn đế quốc sài lang, bắt những người không phục tùng mệnh lệnh của nhà nước.

“Ôi chao, cái dùi sắt và lệnh kẻng đã trở thành linh hồn của dân nước Mynga. Hắn thực sự là chúa tể ngự trong lòng dân chúng. Với cái đùi sắt gõ lên một mảnh bom vỡ, với âm thanh keng keng keng lộng óc, hắn thay mặt cho hết thảy, từ bọn chi bộ, đến lũ thanh niên, đám phụ nữ, ra lệnh lùa hết thảy những nông dân ngoan ngoãn như con gà, con trâu, con bò… về bới từng cái cày, cái bừa, cái cục cứt lợn góp vào làm ăn chung trong cái trại lính được mang tên hợp tác xã.

Cái dùi sắt đó còn là cái mặt, cái miệng của Hò Văn Đản ra lệnh cho những người làm chủ ruộng đồng tập trung thành hàng, thành lối, nhanh chóng ra đồng cày bừa cuốc hái, để tối về lại từng tốp, từng tổ ra sân đình hội họp để tính công, chia điểm.

Đúng là đói như một căn bệnh vô phương cứu chữa, lê lết kéo dài trên toàn cõi Mynga.

Anh chị em nhà tôi, từ khi sinh ra và lớn lên đến nay đã mấy chục tuổi đời, nhưng chưa được một ngày có đủ hai bữa no lương thực trong bụng. Đói, cứ năm nay chịu đói hơn năm trước một tí, năm sau nhất định lại đói thêm đói một tí nữa.

Đói, Đói, Đói, ĐÓI.

Ấy mà, trong các văn bản nghị quyết của nước Mynga, trong các cuộc hội họp lãnh đạo của đám đồng chí nước Mynga, trên loa đài treo giữa nước Mynga, cứ ra rả suốt ngày đêm:

“Nước Mynga ta đang là thiên đường của chế độ Xã nghĩa, với đội ngũ lãnh đạo sáng suốt, tài tình của giai cấp công nhân, chúng ta đã và đang đưa dân tộc ta đến mùa Xuân nhân loại…”.

Ôi cái Mùa Xuân nhân loạikeng keng keng

Ôi cái Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầukeng keng keng.

 

[1] Thơ Tố Hữu, trong bài “ Cô gái sông Hương”

[2] Thành ngữ Việt Nam.

[3] Tục ngữ Việt Nam.

[4] Thành ngữ Việt Nam thời xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

 

[5] Tục ngữ Việt Nam.

3 phản hồi to “Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 25.”

  1. Tin thứ Ba, 08-07-2014 « BA SÀM Says:

    […] Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 25. 08/07/2014 […]

  2. Anhbasam Điểm Tin thứ Ba, 08-07-2014 | doithoaionline Says:

    […] tởm (FB Nguyễn Văn Tuấn).  – Dr. Nikonian: Nhớ cha đẻ Dế mèn (Dân News). – Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 25 […]

  3. ***TIN NGÀY 8/7/2014 -Thứ Ba. « PHẠM TÂY SƠN Says:

    […] Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 25  -(Badamxoe)   —  Chúc mừng & Chúc sức khỏe chị Kim Thu  -(Đinh tấn Lực) […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: