Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 11

Phạm Thành

11.

Bất ngờ phục kích tại bệnh viện bắt cha tôi, giam cha tôi lại, Hò Văn Đản tổ chức họp kín, vận động hết người này, người kia ra mặt đấu tố cha tôi. Nhưng ông ta vận động mãi mà không mấy người chịu đứng ra đấu tố cha tôi. Hò Văn Đản liền dựa vào bản tố cáo cha tôi của bác Hà Độ, viết bài và tổ chức đám báo chí của ông ta viết bài đăng báo, kể tội cha tôi, tạo dư luận, rồi ngay lập tức ông ta triệu tập đám cán bộ nòng cốt trong cả nước hội họp đưa ra kết luận chỉ đạo:

“Các đồng chí. Bây giờ, tuy là xã hội mới, nhưng có kế thừa, vì vậy, những phần tử nào kế thừa cái di sản của quan lại thì phải có nợ máu với cách mạng.

Những kẻ nào làm việc cho Tây, cho Nhật, làm công chức cho Tây cho Nhật, đi lính cho Tây cho Nhật, quan hệ với Tây với Nhật, có nhiều ruộng đất là có nợ máu với cách mạng.

Phạm Vương là người đưa tôi vào tổ chức, là nhà cách mạng đầu tiên của Mynga Xô Viết ta, nhưng thành phần của ông ấy không chỉ là địa chủ, không chỉ là Việt Cách, Việt Quốc, Đại Việt nên không thể không có nợ máu với cách mạng.

Mynga ta đấu ông ta là đấu cái địa chủ của ông ta, đấu cái giai cấp, đấu cái trí thức, đấu cái phú hào của ông ta. Ai không chịu đấu, ai chần trừ đều có thể xem xét ở tội đồng lõa với ông ta.”.

Hò Văn Đản cứ tưởng có luận điểm quan trọng này sẽ xúi dục được nhiều lực lượng cách mạng trong nước Mynga mạnh mẽ đấu tố cha tôi, vì cha tôi vừa có nhiều ruộng đất, lại là trí thức thuộc dòng dõi mấy đời làm quan, lại là người nổi tiếng. Căn cứ vào đường lối đấu tranh Trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rể thì tội của cha tôi rõ mười mươi như ban ngày, cần phải đưa vào diện Đấu đầy, nghĩa là phải đấu trên diện rộng, nghĩa là phải dẫn giải cha tôi diễu qua nhiều nơi để đấu, và mỗi tội danh của cha tôi phải lựa chọn nhóm chổi rễ nòng cốt có hiểu biết phù hợp để đấu tố.

Hò Văn Đản tính toán, viết báo, quán triệt trong lực lượng nòng cốt như vậy, rồi lập tổ công tác đấu tố thí điểm cha tôi, nhưng kết quả thật bất ngờ, không một đội công tác hay tổ chổi rể nào chịu nhận đấu.

Hò Văn Đản có phần lo lắng.

Ông ta phải bỏ công mò mẫm trong dân chúng dò tìm nguyên nhân. Ông ta cay đắng nhận ra: Nguyên nhân, cán bộ và nhân dân nghi ngại không dám đấu cha tôi không phải chỉ ở uy tín của cha tôi mà còn giữa cha tôi với Hò Văn Đản có quan hệ anh em, dù là xa. Nhiều người nghi ngờ Hò Văn Đản bày trò đấu cha tôi là để muốn cất vó những người không ưa chính ông ta và cha tôi.

Chính tai ông ta đã nghe có người xì xào thế này:

“Đấu Phạm Vương là chỗ anh em với ông ta, biết đâu đó là cái kế Mật ngọt dụ ruồi[1] của ông ta, chả dại.”.

Biết tâm lý của nhiều đồng chí trong Đội như vậy, nhưng Hò Văn Đản không biết làm cách gì để bày tỏ nỗi lòng thật sự muốn giết cha tôi cho mọi lực lượng cách mạng hiểu. Bất chợt ông ta nhớ đến câu: Quân pháp bất vị thân, Vì nghĩa diệt thân[2], nghĩa là cứ theo tội mà xử bất kể người đó là ai. Phải làm cho công chúng thấy được chân lý cách mạng: Pháp bất vị thân, Vì nghĩa diệt thân này, nghĩa là, ai có tội cũng đều phải xử tử nghiêm minh; phải làm cho Phạm Vương sáng mắt ra, nhận cho ra, Hò Văn Đản bây giờ là ai?”.

Thế là, ngay tối hôm đó, Hò Văn Đản bí mật ra lệnh bắt bác giáo Mai nhà tôi với một bản án của cách mạng do ông ta ký sẵn và đưa bác giáo đi đâu biệt tích; đồng thời ông ta lại mò mẫm bút giấy, thức mấy đêm liền, viết liền hai bài báo dài rồi cho đăng báo, tố cáo người mẹ nuôi của ông ta, tức bà cụ ngoại nhà tôi, rằng bà là một người phụ nữ độc ác, đã áp dụng chế độ nô lệ đối giới gia nhân trong gia đình, làm hàng trăm người chết vì ăn đói, mặc rét, vì lao động cực nhọc, bị hành hạ, tra tấn.

Sau khi báo chí đăng bài viết kể tội ác người mẹ nuôi của ông ta được vài ngày, ông ta liền cho Đội Cải cách đến bắt bà mẹ nuôi ông ta và đem ra bãi chợ tử hình ngay lập tức.

Tại sao Hò Văn Đản lại phải nhọc công viết báo và nhẫn tâm tử hình người mẹ nuôi của ông ta như vậy?

Mục đích là để hạ uy tín cha tôi, tạo ra sự đồng thuận căm thù cha tôi, rồi tiến đến tiêu diệt cha tôi, quyết tâm nhổ cho kỳ được cái gai thường hay phản đối lại ông ta. Đây là sách lược Giết gà, dọa khỉ[3] của ông ta.Vì trước đây, lúc bắt tay vào thực hiện Cải cách, Hò Văn Đản bàn với cha tôi cần phải đem người mẹ nuôi của ông ta, cũng là người giầu nhất nước Mynga ra làm người bị tử hình đầu tiên, thí điểm cho phong trào Cải cách, nhưng cha tôi lại gạt phắt đi, nói:

“Bà ta, tuy là đại địa chủ nhưng lại là bà mẹ nuôi của cách mạng, tận tâm nuôi nấng, giúp đỡ cách mạng. Tôi, anh và nhiều đồng chí của ta, ai mà không ăn cơm gạo của bà ta? Ai mà không nhờ sự che chở của bà ta? Không những thế, con cái của bà cũng có nhiều người tham gia kháng chiến. Trừng trị là trừng trị thế nào?”

Hò Văn Đản nói:

“Nhưng các chuyên gia cách mạng Quốc Cộng, Xô Liên đã chỉ thị phải tìm người giàu có nhất, có ảnh hưởng nhất trong xã hội đem xử tử làm gương cho phong trào, bất kể người đó là ai? Bà ta rất phù hợp với chỉ thị này. Bắn bà ta là thể hiện tinh thần Pháp bất vị thân của đường lối cách mạng vô sản, là trực tiếp gửi thông điệp cho những lực lượng, những phần tử chống đối phải khiếp sợ”.

Cha tôi:

“Lý là như vậy, nhưng về tình thì không thể như vậy? Nước mình khác, Quốc Cộng, Xô Liên khác. Bà ta, gì thì gì cũng chỉ là người phụ nữ, lại là nơi phong trào cách mạng đã nương tựa, tiền gạo của bà ta đã nuôi dưỡng và cứu sống bao nhiêu là cán bộ cách mạng. Nay, cách mạng vừa mới thành công, một lời cảm ơn chưa có với họ, sao lại lấy oán trả ân cho người ta? Mình là người cách mạng chứ có phải bọn thổ phỉ đâu mà bất chấp mọi điều, miễn sao có lợi cho mình”.

Cha tôi còn dạy thêm Hò Văn Đản:

“Bên ta, người phụ nữ còn là biểu tượng cho người mẹ dân tộc. Bắn phụ nữ tức bắn vào mẹ dân tộc, bắn vào nơi sản sinh ra giòng giống Lạc – Hồng, bắn như thế, khác chi gửi một thông điệp cho quốc dân đồng bào rằng, cách mạng là sắt máu, mẹ hay con gì cũng bắn, cần có người làm gương tế cờ, cứ nhằm người phù hợp là đem bắn. Cách mạng Mác – Le nin khoa học không thể tanh máu như vậy được”.

Cha tôi còn nhìn thẳng vào mặt Hò Văn Đản, cảnh cáo ông ta:

“Anh có phải là người nước Mynga ta không vậy?”.

Hò Văn Đản nghe cha tôi nói dứt khoát và hỏi lại như vậy, ông ta chỉ nhếch mép cười, đôi con mắt trợn lên có vẻ ngơ ngác, nhưng cái đầu nhọn, cái trán dài với nhiều nếp nhăn thì nhiu nhíu lại, thể hiện trong đầu ông ta đã có một tính toán khác.

Quả đúng như vậy, sau một tuần không đồng ý cho Hò Văn Đản bắn người mẹ nuôi ông ta, cũng là bà ngoại xa của nhà tôi, cha tôi bị Hò Văn Đản điều đi chỉ đạo đội Dân công hỏa tuyến, chuyên trách vận tải súng ống, đạn được ra chiến trường. Và khi mãn hạn dân công trở về, trong lúc cha tôi đang bị biệt giam thì Hò Văn Đản sai người đến bắt và tử hình người mẹ nuôi của ông ta.

Hò Văn Đản tính toán rằng, “nếu không bắn bỏ Phạm Vương, không dong ông ta đi khắp nơi cho dân đấu tố, không hạ uy tín của ông ta, có khác chi để cái gai trong mắt mình, để lại một hoàn đá tảng lớn chặn đường phong trào Cải cách. Mà muốn để cho dân tin, dân không còn kính trọng Phạm Vương nữa, thì tốt nhất ta phải bắn bỏ người mẹ nuôi của ta, thủ tiêu con bà ta, cũng là người giầu nhất nước Mynga, để dân vừa sợ, vừa tin tưởng tuyệt đối vào đường lối Vì nghĩa diệt thân của cách mạngvà cũng là thông điệp để bên Quốc Cộng, Xô Liên tin tưởng hoàn toàn vào ta; cũng là tạo khí thế cho phòng trào:

Tiêu diệt Phạm Vương,

đấu những người giàu có,

đấu những người có tiếng tăm,

người có công trong cách mạng,

đấu và thải loại dần đám trí thức”.

Đúng như Hò Văn Đản tính toán, chính từ cái chết của mẹ nuôi ông ta mà cả nước Mynga run sợ, từ đó mà cuộc đấu tố cha tôi của Hò Văn Đản chỉ đạo cho đám nòng cốt cách mạng, đám chổi rễ cách mạng thực hiện mới thành.

*

Cha tôi đón nhận đám Cải cách bắt trói, giam rồi đem ra đình làng đấu một cách bình tĩnh vì trong lòng cha tôi còn nửa tin, nửa ngờ chuyện cách mạng đem cha tôi ra đấu tố có gì đó nhầm nhò ở trong tầng lớp lãnh đạo với nhau..

Hôm đó là một ngày của tháng Tám, nắng nóng lắm. Sân đình không một bóng cây che. Lửa từ mặt trời đổ xuống, cháy vào trong cát. Cát khô khốc, nóng bỏng, lạo xạo. Cha tôi bị Đội Cải cách bắt quỳ gối trên một lớp cát mỏng phơi nắng đã nhiều giờ, ngay giữa sân đình.

Ngày thứ nhất, đám chổi rễ thuộc dạng bần cố nông do Lê Đỗ Hành cầm đầu tố khổ, tố nạn đấu.

Ngày thứ hai, đám chổi rễ thuộc các hội đoàn như Nông hội đỏ nghiêm trang vào đấu.

Ngày thứ ba, đám hàn sĩ cùng đám có ít nhiều chữ nghĩa như Hà Độ hòa cùng lên giọng đấu.

Ngày thứ tư, đám chối rễ tổng hợp đại diện của nhiều vùng miền, nơi trước đây cha tôi đã từng hoạt động, do Hò Văn Đản huy động đến tranh nhau đấu.

Ngáy thứ năm, đám chổi rể thuộc bọn buôn trâu, buôn bò, du thủ du thực, bạn bè của Hò Văn Đản bấu xấu vào đấu.

Hết lượt chúng lại vòng lại.

Chúng xỉa sói mắng nhiếc, sĩ nhục cha tôi đủ điều:

“Đồ địa chủ gian tham”,

“Đồ địa chủ gian ác”,

“Đồ trí thức hủ nho”,

“Thằng nợ máu cách mạng”,

“Thằng con quan liếm gót giày Tây”

Cùng với những lời có cánh rắn độc này, kẻ đấm vào mặt, kẻ đá vào ngực, kẻ cầm chổi cùn, rẻ rách ném vào mặt cha tôi liên tục dòng dã suốt năm ngày, làm ngực cha tôi sưng tím lên, bộ quần áo cha tôi mặc nhàu nát và loang lổ máu, bụi bậm.

Kỳ lạ, bị sĩ nhục, đấm đá như thế, nhưng cha tôi không kêu hay van xin một lời nào với chúng nó. Vài ngày đầu, tuy mặt cha tôi bị tím tái, rỉ máu nhưng những chỗ còn lại trên mặt cha tôi vẫn đỏ hồng.

Có lẽ, cha tôi có thái độ như vậy, hẳn là cha tôi vẫn tin tưởng mình không có tội, nhất định không chóng thì chày sẽ được thả ra và cải chính về sự nhẫm lẩn trong việc tổ chức đấu tố đồng chí Phạm Vương. Hoặc là cha tôi đang hồi tưởng về những lời chửi mắng của bác tôi, tức anh cha tôi, khi việc đấu tố còn chưa lan tới Mynga:

“Chú là cái thằng ngu. Sướng không chịu lại tự mình chui đầu vào rọ. Theo bọn Cộng sản, đưa hắn vào tổ chức, vì hắn phải nhẫn nhục, mang tiếng đủ điều. Hắn mà có chức vụ, thế nào hắn cũng đấu chú cho mà xem. Đến lúc đó chú có vin vào tình đồng chí chú bảo hắn ngừng đấu đá chú được không? Hắn cứ đấu chú, chú có bú cặc được nó không? Thà chú đi đánh bạc, thà chú đi chơi gái, đi trộm cắp, lục lâm mà bị đấu cho nó cam”.

Khi chưa bị đấu, nghe bác tôi mắng mỏ như vậy, cha tôi bao giờ cũng vùng vằng, chống lại:

“Chấp gì cái bọn vô học ở nhà quê. Chẳng có chuyện gì xảy ra với tôi đâu”.

Thế mà đã xảy ra. Đời chẳng biết đâu mà lần.

Bác tôi, tức anh ruột cha tôi, là con trưởng của một ông cai tổng. Khi ông cai tổng chết thì bác tôi được chia nhiều của cải và đặc biệt là nhiều ruộng đất. Cha tôi là con út, ông cai tổng lại mất sớm, nên bác tôi coi cha tôi như con, được bác chăm lo nuôi dưỡng, lo cho cha tôi học hành tử tế. Nhưng chẳng biết từ đâu mà cha tôi chỉ học nửa chừng nửa vời rồi theo hội kín, hội đen, hội cách mạng từ lúc nào, đến khi khởi nghĩa thành công trở thành cán bộ chủ chốt, đứng đầu nước Mynga, gia đình họ hàng mới biết.

Vì cha tôi là con út, nên của cải ông tôi chia cho, cha tôi chẳng được gì nhiều, ruộng đất chỉ dăm bảy mẫu thừa kế từ ông nội tôi. Bác tôi của cải nhiều, ruộng đất lắm, nhưng do ham đánh bạc với Ta với Tây, lấy thua làm trọng nên bao nhiêu của cải, ruộng vườn đều đội nón ra đi. Đến khi Đội Cải cách về kiểm tra điền địa, bác tôi chỉ phải xếp thành phần trung nông lớp trên, không bị đem ra đấu. Cha tôi, là người cách mạng, ý thức rõ nghĩa vụ của giai cấp vô sản là mọi của cải đều là của chung. “Của nhà mình thật đấy, nhưng khi cách mạng cần thì phải góp hết cho cách mạng”, nên không như bác tôi đem gá bạc mà mất gần hết tài sản, ruộng đất; tài sản, ruộng vườn của cha tôi bao nhiêu vẫn còn nguyên bấy nhiêu. Vì vậy, khi Đội Cải cách xem xét sổ sách điền địa thì cha tôi lại thuộc đối tượng có nhiều ruộng đất. Căn cứ vào quy định của chính quyền cách mạng, cha tôi thừa tiêu chuẩn liệt vào thành phần địa chủ. Do vậy cha tôi bị đem đấu tố là hiển nhiên.

Khi Đội cải cách hỏi cha tôi:

“Ông có dăm, bảy mẫu ruộng đất, đúng không?”.

Cha tôi trả lời:

“Đúng”.

Khi chúng hỏi:

“Ông có luôn thủ súng ở trong người không?”.

Cha tôi trả lời:

“Có”.

Khi chúng hỏi:

“Ông có quen biết những tên lưu mạnh, dân giang hồ này, kia không?”.

Cha tôi trả lời:

“Có”.

Tóm lại, những gì cha tôi “có” thì cha tôi trả lời “có”; những gì “không” thì cha tôi trả lời “không”; không loanh quanh chối bỏ sự thật nào.

Cha tôi không thể ngờ rằng, với chủ trương Trí, Phú, Địa, Hào đào tận gốc, trốc tận rễ của chính quyền thì cha tôi lại là người có nhiều tội hơn bất kỳ một kẻ Trí, Phú, Địa,Hào cụ thể nào trong cái nước Mynga này.

Bọn Cải cách đã liệt kê những tội của cha tôi:

Gia đình giầu có, án tội ghi một dòng.

Con em quan lại, có ông cụ nội làm quan cho triều Nguyễn, bán nước, hại dân, Cõng rắn cắn gà nhà[4], án tội ghi thêm một dòng nữa.

Trí thức, biết chữ Tây, chữ Tàu, hay xi la xì lồ với người khác, án tội ghi thêm một dòng nữa.

Biết nhiều hội kín, đặc biệt là hội có tên Việt Cách, Việt Quốc, Dân chủ, Xã hội, Đại Việt…, án tội ghi thêm một dòng nữa.

Kết thân với nhiều người trong đám giang hồ tứ chiếng, du thủ, du thực, cắp trộm, đĩ điếm, án tội ghi thêm một dòng nữa.

Có nhiều ruộng đất, địa chủ, bóc lột nhân dân, án tội ghi kín cả mấy trang giấy.

Tính tội theo dòng, theo chấm đỏ của Đội Cải cách, tội của cha tôi kín cả mấy trang giấy, cơ man nào là tội, nhưng cha tôi lại kiên quyết không nhận một tội nào. Ruộng đất mấy mẫu là của bố mẹ chia cho.

Quen Việt Quốc, Việt Cách hay Đại Việt, Dân chủ, Xã hội hay bọn du thủ, du thực là do công việc cách mạng buộc phải quen.

Chính các đối tường này cũng đã giúp cha tôi lật đổ chính quyền Nhật, Pháp.

Vì cha tôi không nhận tội nên chúng cứ trói, giam và dẫn giải cha tôi diễu đi nhiều nơi, bị đấu tố tới cả tuần mà chúng vẫn chưa thể kết tội và đem xử bắn cha tôi được.

Cha tôi không nhận tội là bản tính trung thực, thẳng thắn của cha tôi, có chết cũng nhất định không chịu ăn gian, nói dối. Cũng là một cái may, nếu cha tôi nhận tội bừa theo lời hứa của mấy ông Đội Cải cách để được tha thì chắc là cha tôi đã bị xử tử rồi.

*

Khi cha tôi đang bị đấu tố và giam giữ ở đình làng, bác tôi thường nằm gối đầu lên tràng kỷ như nhất quyết không thèm ra đình xem, nghe dân làng đấu đá gì em ông. Bác tôi đinh ninh, với cái công là người đầu tiên đi làm cách mạng cho nước Mynga, phát triển đảng viên cho nước Mynga mà bây giờ bọn họ đều là những người chủ chốt của cách mạng, Đội Cải cách cũng chỉ đấu cho lấy lệ. Nhưng rồi, ngày này qua ngày khác, vẫn thấy cha tôi bị trói, giam ở sân đình, làm bác tôi không thể thi gan với Đội Cải cách như thi gan với chân lý được nữa.

Một chiều Thu chạng vạng

Gió Thu le xe… hề

Nắng Thu đang lụi tàn trên ngọn Núi Nội xa xa… hề

Những con trâu đang lặng lẽ gõ móng trên đường về chuồng… hề

Những mẹ gà đang cục cục gọi con về chuồng …hề…..

Lúc đó, bác tôi mới loẹt quẹt đôi guốc mộc đi đến đình làng thăm cha tôi.

Bác tôi tá hoá tam tinh ngay lập tức, khi thấy cha tôi bị trói gô, ngồi thu lu ở góc đình, muỗi trấu bay vo ve quanh mặt đang xám ngoét, sưng xỉa, rỉ máu.

Bác tôi không thể chịu nổi cảnh này, răng nghiến đi, nghiến lại kèn kẹt, rồi sền sệt trong cổ họng, hồng hộc, ào ào mắng vào mặt cha tôi:

“Ngu thì cắn răng mà chịu, mới là người biết. Chẳng lẽ lại rên”.

Mắng xong, bác tôi vội chống cái ba toong xuống nền gạch rồi dựa ngực vào đầu gậy, miệng hộc hộc lên vài tiếng, máu ồng ộc tuôn ra miệng, y trang Từ Hải chết đứng, rồi nghiêm cẩn bỏ nước Mynga mà đi giữa lúc bên kia góc đình một đám thanh, thiếu niên cách mạng đang gân cổ lên hát Quốc ca:

Cờ in máu chiến thắng…

Đường ta đi xây xác quân thù[5],

nghe rất có hào khí.

Trong tư thế đứng rồi chết, bác tôi còn phều phào cố nói với cha tôi:

“Chẳng biết đâu mà lần. Anh hùng mà biết nhiều, hiểu lắm ở thời nào cũng chết trước. Càng biết nhiều, càng chóng chết”.

Chẳng biết cha tôi có ân hận từ lời nói của bác tôi không?

Mẹ tôi đã nhiều lần chứng kiến bác tôi khuyên cha tôi:

“Hãy theo thời, theo thế mà làm. Cố gắng đừng có cái gì cũng biết. Cái gì cũng muốn đóng góp hơn người. Tận lực hơn người. Anh hùng hơn người”.

Nhưng cha tôi không nghe. Bác giáo Mai nhà tôi, đang là giáo viên, giầu có nhất vùng, cha tôi vận động đến mức, bác đem cả gia sản giá trị hàng trăm cây vàng góp cho cách mạng. Rồi cha tôi đi đêm về hôm, tìm người có khả năng, vận động, lôi kéo cả họ vào tổ chức. Rồi cha tôi tổ chức du kích chặn xe Pháp ở chỗ này, phá cầu cống ở chỗ kia. Ở chỗ nào cha tôi cũng là người cầm đầu, bày mưu tính kế và dẫn đội đi mai phục phá hoại. Cha tôi bao giờ cũng là người oai hùng nhất. Rồi lại cái gì cha tôi cũng biết, cái gì cha tôi cũng thông. Cho nên theo quy luật của tổ chức bộ máy nhà nước thì người tài, người có công, người nổi tiếng nhất định sẽ bị các đồng chí của mình cùng hàng hùa nhau tìm cách sát hại là chuyện đương nhiên.

“Không giết sớm đi, sau này đứng ở hàng khai quốc công thần, hẳn sẽ là vật cản, gây khó dễ cho việc trị quốc”.

Có lần bác tôi đã phải rên xiết mắng mỏ cha tôi:

“Chú thông minh mà sao lại kém đến thế? Đã biết từ thời thượng cổ Thỏ hết thì chó săn bị cùng đường mà vẫn không ngấm, cứ khăng khăng một lòng nghe lời cái thằng rậm râu, mũi lõ ở mãi tận đẩu tận đâu làm gì mà không rước họa vào thân”.

Hoá ra, bác tôi, người hăng hái cờ bạc, lấy thua làm trọng, đến khuynh gia bại sản, lại có cái lý Ưu thời, mẫn thế[6] hơn hẳn cha tôi. Nhờ cờ bạc, chính bác tôi đã cứu cho đại gia đình tôi thoát chết trong Cải cách, nội ngoại họ Phạm nhà tôi chẳng thể chỉ có vài chục người bị lên đoạn đầu đài, và sau Cải cách cũng không biết còn bao nhiêu người phải lên đoạn đầu đài nữa?

*

Năm đó, ngoài cái ánh sáng cách mạng mang tính chất giết người này, nhìn chung văn hoá cách mạng Xã nghĩa Sống thì còn, chết thì hết của Hò Văn Đản và đám đồng chí của ông ta mới chỉ len lỏi nơi các bãi chợ, đường thôn, ngõ phố mà chưa đến cửa các gia đình ở Mynga, nên đám tang bác tôi, đội kèn trống vẫn đến thổi rất là xôm xả. Đấy cũng là vụ tang có kèn trống cuối cùng ở nước Mynga, vì Hò Văn Đản hạ lệnh cấm không được tổ chức linh đình chuyện tang gia, cưới xin. Ông ta chỉ thị cho chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm chỉnh đường lối này:

“Cưới xin mà tổ chức hoành tráng là lãng phí của cải; còn tang gia mà kèn trống om sòm, rền rỉ tang thương cho người chết là rất không có lợi cho tinh thần đấu tranh giai cấp của những người Cộng sản đang sống”.

Bác tôi chết, mặt cha tôi cũng không còn mấy khi đỏ nữa. Trong lòng cha tôi rất quặn đau. Chính vì cha tôi, mà bác tôi, tức anh cha tôi, phải hộc máu mồm ra mà chết. Cha tôi ắt rằng cũng phải biết thẹn về cái chết của bác tôi chứ?

Phải biết thẹn về những lời xía sói, bịa đặt; phải biết đau từ những cú đấm bầm gan tím ruột từ các đồng chí, từ nhân dân mà ông đã vận động rồi giác ngộ họ tham gia vào tổ chức cách mạng chứ? Vừa đau thân xác, lại vừa thẹn ở tâm hồn, mặt trung nhân nào còn đỏ được nữa? Vậy cái màu đỏ trên mặt cha tôi đã biến đi đâu?

Nó đã chuyển xuống gan, xuống ruột và thầm xì lại như phân như cứt mất rồi.

Nó cũng đã chuyển xuống cái chết bất ngờ, xuống cái hố chôn bác tôi mất rồi.

Bác tôi mất, cha tôi không chỉ đau nỗi đau của người em mất anh, mà còn mang nỗi đau như người con mất cha. Cha tôi biết rằng, khi cha của cha tôi mất, cha tôi mới chưa đầy mười tuổi, bác tôi đã đảm nhận nhiệm vụ anh thay bố nuôi cha tôi ăn học đến nơi đến chốn, vào loại tử tế nhất nước. Bác tôi lo cho cha tôi từ đồng tiền, bát gạo, điếu thuốc, ngọn rau, lo dựng vợ cho cha tôi với con nhà tử tế.

Nỗi đau vì cha tôi mà bác tôi phải hộc máu mồm ra chết đứng còn âm ỉ gặm nhấm cõi lòng cha tôi mãi mãi, vì chính cha tôi đã không nghe lời bác tôi, quyết tâm đi làm cách mạng, để rồi lại bị chính cách mạng hành xác đến độ bác tôi không thể cầm lòng, uất lên mà chết, làm mặt cha tôi không thể đỏ lên được nữa.

Bác tôi thường nói với cả họ rằng:

“Họ Phạm nhà này, cường quyền, tiền bạc không thể khuất phục, nhưng đem tình, đem nghĩa ra để lung lạc thì trăm lần đều bị khuất phục cả trăm lần”.

Cha tôi, lần đầu tiên trong đời, ngấm đòn uất, đòn hận; biết đòn uất, đòn hận là thế nào. Đòn uất, đoàn hận cứ âm ỉ cào xé trong lòng cha tôi cho đến một ngày miệng cha tôi cũng ộc ra một cục máu tươi, thân thể đau mê mết, nằm liệt giường cả tháng trời và còn bị di chứng viêm phổi nặng. May có mẹ tôi tận tình chăm sóc, tìm đủ mọi lá leo, củ quả cùng các thang thuốc Bắc, Nam sắc cho cha tôi uống, đến mức bả thuốc Bắc, thuốc Nam chất thành đống ở một góc vườn nên cha tôi mới dần dần qua khỏi cái chết.

Khỏi chết nhưng không khỏi tù đầy. Cha tôi vừa mới ngồi dậy được, miệng ăn cơm còn nửa đắng, nửa ngọt thì Hò Văn Đản sai cai tù đến bắt và tống cha tôi vào Trại Cải tạo, phải chín năm sau cha tôi mới được thả về.

Cha tôi đi tù, Hò Văn Đản và đám đồng chí của ông ta vui ra mặt. Bởi vì cha tôi là người đưa ông ta vào đảng, vào tổ chức; người dạy cho ông ta có chữ và nên ông và đặc biệt cha tôi còn là người không bao giờ coi ông ta là cấp trên của mình, đã không còn đi đi lại lại tự do trong nước Mynga nữa.

Bọn Hò Văn Đản hỉ hả lắm. Từ đây bọn chúng mới thực sự yên tâm ở vị trí lãnh đạo. Từ đây bọn chúng mới thực sự vững tin muốn làm gì thì làm, muốn ăn gì thì ăn, muốn đụ ai thì đụ, vì cái đinh lớn mang tinh thần dân tộc, vì dân tộc cầm đầu là cha tôi đã được chúng đưa vào sinh sống tự do trong củi sắt.

Hơn nữa, đánh đổ được cha tôi, nó thực sự còn là đòn cảnh báo của Hò Văn Đản cho những người Cộng sản ở nước Mynga từ đây phải dứt khoát từ bỏ lập trường dân tộc, tuân thủ theo lập trường Cộng sản của các nước đàn anh Xô Liên và Quốc Cộng.

Người Cộng sản nước Mynga cũng từ đây:

sống là vì Cộng sản

mà chết cũng là vì Cộng sản.

Cũng từ đây, Hò Văn Đản quán triệt tinh thần phục tùng tuyệt đối Stalin, Mao Trạch Đông với một chỉ giáo sắc lạnh như kim chỉ nam cho mọi suy nghĩ và mọi hành động của đám đồng chí và của toàn dân nước Mynga:

Tôi có thể sai lầm, chứ Stalin, Mao Trạch Đông không thể có sai lầm.

Hò Văn Đản còn tự kiểm điểm, rút kinh nghiệm về vụ đấu tố cha tôi và ông ta thấy rằng:

“Nếu các đối tượng thuộc diện đấu tố, bắn bỏ mà đối tượng nào cũng phải đầu tư để hạ bệ như cha tôi thì vừa mất công, vừa tốn nhiều thời gian, lại ầm ĩ cả nước, mục đích lại không đạt được, rất không có lợi cho uy tín của chính quyền, rất không đúng tiến độ cuốn chiếu của cách mạng”

Khắc phục những hạn chế này, một mặt Hò Văn Đản kiêm luôn chức Chủ tịch nước; mặt khác ông ta liền ra chỉ thị tối mật: Diệt mầm loạn, nhổ cỏ dại với tinh thần chủ đạo của nó là diệt trong im lặng.

Sau chỉ thị Diệt mầm loạn, nhổ cỏ dại, diệt trong tinh thần im lặng của Hò Văn Đản, hàng loạt những người nổi tiếng, trí thức nổi tiếng, nhà văn hóa, nhà văn nổi tiếng, các nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, đặc biệt là những đảng viên không Cộng sản tự nhiên đồng lọat biến mất khỏi nước Mynga. Trong đó, gia đình nhà tôi cũng tự nhiên mất tích ba người nổi tiếng.

Một người là quan Thượng thư của triều đình nhà Nguyễn, cũng là nhà văn hóa lớn, trí thức lớn của đất nước, ông Phạm Quỳnh[7];

Một người là nhà cách mạng, nhà văn, nhà dịch thuật, đảng viên Quốc dân Đảng Hoàng Phạm Trần – Nhượng Tống[8].

Một người là nhà thơ, giỏi tiếng Pháp – Tôn Nữ Thu Hồng[9].

Mãi sau này gia đình mới biết, các ông, bà này đều bị Hò Văn Đản tổ chức thủ tiêu một cách tàn bạo, gây nên những cái chết đau đớn cho nạn nhân.

Ông Phạm Quỳnh bị chúng bắn chết rồi vùi xác bí mật xuống cống rảnh.

Ông Nhượng Tống bị ám sát bí mật tại Thủ đô.

Bà Thu Hồng bị giam hãm và bị bắn chết ở một cánh rừng.

 

Vọng

Cậu Cao Công Thắng bỗng đạp chân thùng thùng vào quan tài rồi gào lên:

“Cách mạng cái con cặc. Nhân danh cái con cặc. Đúng là cái trò lồn chột, cái trò cặc thúi nhà chúng nó. Đúng là cái trò nhố nhắng của bọn vô lại

Bác sĩ Minh Quân hỏi:

“Bọn vô lại nào?”.

Cậu Cao Công Thắng:

“Bọn cầm quyền là bọn vô lại. Xưa nay, trí thức chỉ là bọn phát động cách mạng, chỉ ra sự bất công của xã hội, nhưng thực hiện được cách mạng là bọn cuồng tín, có máu anh hùng, dám sống, dám chết trong gang tấc”.

Bác Hà Độ chen vào:

Thà một phút huy hoàng rồi vụt tắt

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm[10].

Cậu Cao Cao Thắng tiếp tục:

“Nhờ có bọn cuồng tín đó mà cách mạng thành công. Sau cách mạng, bọn này trở thành người cầm quyền. Chúng nó nhanh chóng trở thành lũ vô lại, cơ hội, như vắt, như đỉa, chỉ chờ đồng loại lơ là một chút là chúng chìa cái vòi ra hút máu đồng loại ngay”.

Bác Minh Quân ta thán:

“Lãnh tụ vĩ đại của Mynga ta nói Con người là vốn quý. Trong trời đất không có gì quý bằng con người,là nói nhảm sao? “

Cậu Cao Thắng đáp lại mà như không cần phải suy xét gì:

“Không nhảm, nhưng không thấy hiện thực đó ở Mynga sau cách mạng Một chín bốn lăm”.

Bác Minh Quân tiếp tục truy vấn:

“Thế thì quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của dân Mynga ta bây lâu nay ở đâu?”.

Cậu Cao Thắng rằn giọng:

“Ở cái lồn chột. Ở cái cặc thúi. Làm đéo gì có cái quyền ấy ở nước Mynga mới này, mà hỏi!”, rồi cậu Cao Công Thắng hát tướng lên câu tục ngữ Cái lồn chột, cái cặc thúi bằng một điệu chèo cổ, giống như phường chèo thường i a hát trên sân khấu Chèo:

“Cộng hòa í a lồn chột. Dân chủ í a cặc thúi”.      

 

 

 

[1] Tục ngữ Việt Nam.

[2] Thành ngữ Việt Nam, nói lên tinh nghiêm minh của Pháp luật.

[3] Thành ngữ Việt Nam

[4] Thành ngữ Việt Nam.

[5] Lời trong Quốc ca của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

[6] Hiểu biết chính xác thời cuộc.

[7] “Ai đã giết nhà văn hóa lớn, trí thức lớn Phạm Quỳnh (Thái Doãn Hiểu – Những cái chết tức tưởi của Nhà văn).

[8] Hoàng Phạm Trần – Nhượng Tống bị Việt Minh ám sát tại Hà Nội năm 1949 ( Thái Doãn Hiểu- Những cái chết tức tưởi của Nhà văn.

[9] Tôn Nữ Thu Hồng bị Việt Minh tra tấn dã man và thủ tiêu ( Thái Doãn Hiểu – Những cái chết tức tưởi của Nhà văn.

[10] Thơ của nhà thơ Xuân Diệu.

3 phản hồi to “Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 11”

  1. dangminhlien Says:

    Khá hay và hiện thực; bi hài, biếm hoạ đều có

  2. Tin thứ Bảy, 17-05-2014 « BA SÀM Says:

    […] Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 11 16/05/2014 […]

  3. NHẬT BÁO BA SÀM : TIN THỨ BẢY 17-5-2014 | Ngoclinhvugia's Blog Says:

    […] Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 11 (Bà Đầm […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: