Tiểu thuyết Cò hồn xã nghĩa (2)

Kính bà con

Qua comment và emai Phạm Thành nhận thấy có nhiều bà con muốn đọc tiểu thuyết Cò hồn xã nghĩa, vì vậy, Phạm Thành quyết định posts môi tuần hai kỳ vào thứ 3 và thứ 7 hàng tuần để bà con tiện đọc.

Kính chào bà con. Phạm Thành

2.

Chiều tàn sương lạnh buông rơi.

Tôi nhìn những cây hương cháy sắp tàn, tiếng trong mộ bỗng cùng ngừng lại, rồi bốn ông như nắm tay nhau, chụm miệng lại với nhau đồng thanh hỏi tôi:

“Cuộc sống của dân Mynga đang như thế nào”?

Tôi đau đớn, trịnh trọng trả lời bốn ông:

“Khổ lắm, các ông ơi! Trời vừa quét bão qua. Nước Mynga giờ đây xơ xác lắm.

Những bụi tre già bị gió bão vùi dập, chỉ còn cành xác xơ, đang lặng lẽ chọc gai chông lên trời.

Những bụi chuối non, chuối già đều đổ rạp, trốc gốc, lá tàu rách nát nằm chỏng trơ im lìm nơi góc vườn.

Cây mít, thân mốc xì đang rỉ nhựa, do những quả non bị gió quăng quật rụng xuống.

Sau bão, trời sợ người dân Mynga hỏi tội nên cố cao vống lên và trong xanh đến ghê rợn. Chỉ ở chân trời phía Tây, lẩn trong những đám mây đen trôi lững lờ lãng đãng, thỉnh thoảng mặt trời mùa Thu đỏ ối mới hiện ra.

Mái rạ chiều cho một bữa tối của một vài nhà bắt đầu vật vờ toả khói.

Làng đã đói lắm rồi, thưa các ông. Bão quét qua càng trở nên xơ xác, giống như một làng chết rồi. Chẳng ngõ nào còn vẳng lại tiếng lợn kêu, chó sủa. Ngay cái bãi rác gần nghĩa địa các ông nằm cũng chẳng còn gì, đến chó đói cũng không thèm lai vảng tới nữa.

Lặng lẽ, kiệt quệ lắm rồi. Xơ xác, điêu linh lắm rồi. Không gian yên tĩnh, thê lương lắm rồi, nó tựa như những thanh kiếm sắc đang dư dứ trước mặt kẻ sắp phải chịu tội chém đầu rồi”.

Nghe tôi than thở giống như kẻ sắp đứt hơi như vậy, chả thấy ông nào động tĩnh lại gì, các ông như để mặc cho tôi suy tư về trận bão vừa quét qua.

Bão gì mà ghê gớm, rợn người đến thế? Người chết có đến mấy chục mạng. Có người mất mạng vì sóng lớn chồm lên cuốn họ ra biển cả. Có người bị gió táp ngoặm lấy bốc lên cao ném xuống góc ao, bờ ruộng. Nhà cửa như những túp lều khổng lồ tung tóe, bốc bay.

Bên tai tôi vẫn còn âm vang những tiếng gào khóc nỉ non của những đứa trẻ bị mất cha, mất mẹ; tiếng rên rỉ lặng câm, bộ mặt sắt đanh lầm lì của những ngươi cha mất con… lẫn trong tiếng gió rít ào ào, tiếng đùng đoàng của sấm chớt, tiếng rùng rùng của sóng biển Đông liên tiếp ập vào bờ, lớp nọ táp lớp kia như đàn ngựa phi nước đại, ào ào, gào rú, lao về phía đất liền, gặp núi cao Sơn Trường, bị chặn lại, chúng lồng lên, ép gió trở lại, tạo thành những trận gío xoáy lốc, bốc, nhổ gọn gàng, bạo liệt những nhà tranh tre nứa lá, nhà kiên cố, những cây cối cỡ đại thụ, những khóm trúc, bờ tre, những hàng dừa kiên gan ôm bóng.

Cuồng phong cũng cuốn cát ven bờ bay tứ tán, nghe lát chát như tiếng tên rơi, đạn lạc vào đồng ruộng, xóm thôn.

Dân tình đã tan tác lắm rồi, nhà cửa đã tan hoang cả rồi, ấy mà họ vẫn còn phải thấp thỏm lo âu, hốt hoảng bởi sự ầm ào liên tiếp của những cột sóng thuỷ triều dâng cao từ Biển Đông chực đổ ập vào. Chúng như đàn ngựa phi rầm rập, tong tong, hối hả, dũng mãnh tiến vào bờ như một sự thèm khát vô biên đất liền, con người, nhà cửa và những gì có trên mặt đất…

*

Buồn càng thêm tê tái.

Tôi thất thểu trở lại nhà.

Buồn càng thêm mênh mông.

Tôi muốn khóc rống lên một tiếng thật to mà ngẹn ở cổ họng.

Tôi chán chường sự sống.

Tôi cáu kỉnh thách thức chính tôi:

“Thôi kệ, chết đến đâu tính đến đó”.

Sự sống trong tôi lại rầu rầu chống lại:

“Nhưng biết tính kế sinh nhai gì bây giờ?”.

Tôi như tàu lá chối rách rủ xuống sát mặt đất:

“Thôi kệ”.

*

Chán chường, tôi bèn hạ bịch cái thân còm cõi sắp hết hơi của tôi trên cái gường làm bằng tre, rồi nhắm nghiền mắt lại.

Bỗng tôi thấy cha tôi đang ngồi thu lu trên bộ trang kỷ làm bằng tre, một tay cầm cái điếu cày, giữa hai đùi kẹp một cuốn sách dày cộm: “Bàn về Biện chứng học Mác – Le”, tay kia vân vê điếu thuốc lào, rồi đưa điếu lên miệng, rít.

Rít xong, cha tôi ho sụ sụ, rồi thủng thẳng nói bâng quơ:

“Sách đọc mãi cũng chán. Ngày Tám, mưa bão làm người ta cứ ru rú ở trong nhà, đến thuốc lào cũng tốn. Không hút thì nhạt mồm, nhạt miệng”.

Lại thấy mẹ tôi, đầu tóc rối bù, từ ngoài vườn ôm trong lòng một mớ đu đủ xanh, bước vào sân, rồi ném uỵch đu đủ xuống sân, miệng than thở:

“Mít, chuối hỏng hết rồi ông ạ. Chẳng có cây nào không long gốc, tróc vỏ”.

Cha tôi hạ chân xuống đất, rời tràng kỷ, loẹt quẹt chân guốc mộc, bước ra hè, nhìn mớ đủ đủ xanh lăn lóc ở giữa sân, cha tôi nhớ, những cây đu đủ mới ra quả bói này, cha tôi mới trồng cách đây độ dăm tháng, nay thì hỏng hết cả rồi.

Cha tôi chia sẻ niềm tiếc của với mẹ tôi:

“Trời ác thật. Hết nắng, lại mưa, lại bão. Khó sống thật. Thôi, bà đem mà nhúng mẻ cho chúng nó ăn”.

*

Chưa bao giờ Mynga tôi phải chịu cảnh đói như những năm tám mươi. Trừ một số gia đình là cán bộ nhà nước ra, còn lại dân Mynga đều chịu chung một cảnh đói.

Cái đói này không chỉ do bão dập, mưa xối mới lộ ra mà nó rắc dây, lê lết từ năm này qua năm khác.

Năm trước đói một ít, năm sau đói thêm ít nữa, năm sau thêm ít nữa, ít nữa…

Đến những năm tám mươi thì cái đói của các năm trước dồn tụ lại và mở bung ra, đẩy mạng người dân Mynga dúi dụi vào cõi sống mơ màng chết chóc.

Lý do là từ mùa màng thất bát liên miên mà ra.

Năm nay thất bát một ít, sang năm thêm một ít nữa, sang năm thêm một ít nữa, một ít nữa…cho đến khi cây lúa có trồng mà không có thu hoạch; cây ngô, cây khoai, cây lạc có trồng mà không có thu họach; lâu lâu dồn tụ lại, cho đến những năm tám mươi thì đạt mức đại dồn tụ, rồi bung ra.

Bung ra trên cánh đồng, những ruộng lúa vàng, ngẹn đòng do cấy không kịp thời vụ hoặc giống bị thoái hóa, hoặc thiếu phân, thiếu nước.

Bung ra trên cánh đồng, những cây ngô thân xám mốc, bắp bé như cái chuôi liềm, trong bắp chỉ bám có dăm, ba hạt.

Bung ra trên cánh đồng, những cây lạc lè tè, xòe lá trên mặt đất với những bông hoa vàng rực rỡ bé li ti, báo hiệu một mùa chỉ có rể mà không có củ.

Bung ra những bến sông, triền bãi, mương phai, bờ ruộng những dây rau má loằng ngoằng, dai nhếch mà nay cũng đã cạn kiệt.

Bung ra, bung ra,.. những cái bồ không thóc gạo, im lìm đứng trong xó tối của mỗi căn buồng ở tất cả các gia đình của nước Mynga.

Bung ra, bung ra… những khuôn mặt hốc hác, thần sắc xịn xịn, tím đen như sắc mặt ma vương; những thân thể gầy còm như những thân cây giang non khô héo;

Bung ra những con người mỏng tang như những con gián luôn ép sát mình xuống mặt đất để chờ chết…

Bung ra tất cả để túm lại chỉ ở một nguyên nhân duy nhất:

Thiếu ăn, đói – Đói, thiếu ăn.

Và cũng từ đó, bung ra những cái xích sắt sơn màu đỏ hồng như những dây rau má khổng lồ bò ngang, bò dọc, quấn ngang, quấn dọc trên mọi ngõ ngách, nẻo đường; quấn ngang, quấn dọc trên từng thân thể con người, như cờ đỏ sao vàng háo hức, vô tư tung bay phấp phới trong nắng, trong mưa, trong bom, trong đạn ở nước Mynga Cò hồn Xã nghĩa này.

Nó là hệ qủa từ chính sách, chủ trương của Hò Văn Đản và đám đồng chí của ông ta trong cái bang Cò hồn Xã nghĩa mà ra.

*

Tôi khẹc khẹc cái mũi như con mèo hen kêu lên:

“Cha ơi! Nước Mynga của cha, của bác Hà Độ, của bác Minh Quân, của cậu Cao Công Thắng, của Hò Văn Đản đang đói. Có dễ còn đói hơn cả năm bốn lăm đấy, cha ơi!”.

Tôi biết, sách vở cũng còn ghi, năm Một chín bốn lăm, dưới ách quân xâm lược Pháp- Nhật, cả nước Mynga lâm vào nạn đói. Người chết trên đường, trên đồng nội nhiều vô kể. Có gia đình nhiều ngày không kiếm được gì cho vào bụng đành đun cả phân trẻ con còn bú sữa lên ăn.

Cha tôi hay kể, đói đến mức, cây cáo (gạo) cổ thụ của nhà bác tôi cũng đã trơ trọi cành, mùa Xuân đã đưa gió ấm về mà chẳng có chồi lộc nào nhú ra. Những dòng nhựa ứa ra thâm xì cũng đã khô cong lại trên thân thể nó.

Vỏ của nó đã được con người đẻo đi, đẻo lại cho đến tận lõi, nên cây không còn khả năng để sống. Làng xóm xơ xác lắm rồi. Làng quê thực sự trở thành một hoang mạc rồi.

*

Lúc nhà bác tôi còn gạo, thấy đồng loại của mình đẻo vỏ cây mà ăn, bác tôi không mắng, không chửi mà cặp râu ba chòm vểnh lên, đôi mắt nheo nheo ra ý khinh bỉ:

“Ăn vỏ cây dại cứ như ăn ngô rang, không biết họ là người hay là cái giống gì?”.

Có bận, bác tôi thấy có người ăn như vậy, loẹt quẹt đôi guốc mộc, “cọc cọc” cây gậy chống, liêu xiêu đi đến, không thèm nhìn mặt kẻ đói khát, ném về phía hắn một cục cơm, giống y trang như ném cho chó đói.

Bác tôi là một tay phú hào ăn chơi có tính cách riêng, chẳng coi tiền bạc, của cải ra gì.

*

Nhưng bây giờ cây cáo nhà bác tôi cũng chẳng còn. Bác tôi cũng chẳng còn để mà khinh bỉ kẻ nghèo đói. Với lại, kẻ khinh bỉ “người ma” năm đó, nay đã thay đổi ngược, đa phần họ đã trở thành người đồng chí, là chủ nhân ông của nước Mynga Cò hồn Xã nghĩa rồi. Con tạo đã xoay vần rồi. Đến kẻ khố rách áo ôm mấy đời đi ở đợ làm thuê như Hò Lê Đỗ Hành cũng đã nắm cái chức Chủ tịch mặt trận nước Mynga rồi.

Đói nên thân xác con người luôn bị cái đói dày vò, bị cái no cám dỗ, hành hạ. Mơ tưởng về một bữa no luôn thường trực trong tâm thức của dân trong cả nước. Người ta sợ cái chết bất ngờ ập đến lúc nào không hay cứ lãng vảng quanh quẩn trong tâm thức của bất kỳ người dân nào. Cả nước Mynga lo sợ, cả nước Mynga tiên đoán, năm nay thời tiết có cái gì đó giống năm Một chín bốn lăm, chắc chắn sang năm đói còn dài, đói còn to hơn năm nay. Người có thể sẽ chết hàng loạt, giống như những cái chết của năm Một chín bốn lăm mà trong sách nước Mynga còn ghi và ai ai cũng còn nhớ.

*

Nhìn những quả đu đủ xanh, cha tôi chép chép cái miệng như muốn có thêm con cá, con ếch nấu với nó.

Thật là nhà nghèo mơ cảnh tiên.

Thế mà có thật, con trai mợ Cúc xồng xộc từ cổng đi vào với một xâu cá thập cẩm mè ranh, diếc đỏ đem biếu.

Mẹ tôi nở nụ cười, thầm cảm ơn trời đất.

Mẹ tôi mở to mắt nhìn trời, lắp bắp trong miệng:

“Mợ Cúc ăn ở như thế là được. Không phải túi vàng, túi bạc gì, nhưng là ở cái tình, cái nghĩa, sống có trước, có sau, ông ạ”.

Cha tôi hẳn cũng thấy vui vui trong bụng, ướm lòng mẹ tôi:

“Có một cút rượu nữa, bà nhỉ!

Mẹ tôi tru tréo lên liền:

“Đếch gì có. Cả làng có ai còn gạo ăn đâu mà ông đòi rượu”.

Mẹ tôi là người phụ nữ có bản tính nhẫn nhịn, sao hôm nay lại bất ngờ nổi đóa lên với cha tôi như vậy?

*

Tôi nhớ, bữa chiều hôm ấy, mẹ tôi đem đu đủ trộn mẻ nấu với cá mè, diếc thập cẩm. Nồi cá om chỉ mới sôi lên, mùi thơm của cá quyện với mùi thơm của mẻ bay ra, quyến rủ cái mũi của tôi thật không thể tả được. Cái mùi vừa thơm, vừa ngòn ngọt, vừa chua chua, kích thích cái đói trong dạ dày tôi ghê gớm, lạ thường.

Khi nồi om còn đang sùng sục sôi trên bếp, tôi cứ vào rồi lại ra đến không biết bao nhiêu lần, giống như chó con khát sữa đánh hơi thấy mùi sữa mẹ.

Mẹ tôi nhìn tôi như đoán được bụng dạ tôi, còn cha tôi thì vẫn ngồi co ro trên cái tràng kỷ tre, tay lật trang này trang kia cuốn sách “Bàn về Biện chứng học Mác -Le” và thỉnh thoảng lại tra thuốc lào nào nõ điếu, rít. Tiếng “rít” vang từ nhà trên xuống đến tận bếp dưới. Gió của một cơn bão tàn vẫn thỉnh thoảng còn lật phật ở ngoài vườn. Mặc nó, cùng lắm cái gío tàn đó chỉ giật tung được vài cái tàu lá chuối che hố xí nơi góc vườn là cùng. Đời tôi như đang bị nồi cá om đu đủ nhấn vào.

*

Loanh quanh vào ra, nước bọt tôi tứa ra, họng tôi nuốt lên nuốt xuống nhiều lần mà chưa thấy mẹ tôi bê nồi ra.

Tôi ngồi bệt xuống đất bật khóc.

Mẹ ngoái nhìn tôi, mắt mẹ cũng dâm dấm nước mắt, nói trong nghẹn ngào: “Chín rồi đây. Chín rồi đây”. Nhưng cũng phải chờ một lúc nữa mẹ tôi mới bê nồi om và cái chõ bánh sắn ra. Khói nóng bốc ngồn ngột trên hai cái miệng nồi khi mẹ tôi mở vung hai nồi ra.

Mẹ tôi trịnh trọng đặt cái nồi cá om vào giữa cái mâm, làm bằng gỗ, mà theo mẹ, nó là của hồi môn của ông tôi mà bác tôi đem cho, khi cha mẹ tôi ra ở riêng.

*

Tôi được mẹ tôi lấy cho ba cái bánh sắn, mỗi chiếc bằng một quả ổi găng và nguyên một con cá diếc, còn đu đủ thì ai ăn người đó gắp.

Quả thực, cái vị đăng đắng của bánh sắn gạc nai, đặc sản của đồng bào thiểu số vùng cao gác trên gác bếp lâu ngày, đen sì và nồng nặc mùi khói bếp, mọt gặm mà cha tôi mua về từ tháng trước, thật không phù hợp một tý nào với nồi cá om đu đủ.

Nhưng vì đói mà tôi ăn ngấu, ăn nghiến, ăn như ăn giò, ăn chả của cụ nghị Quế trong tác phẩm Tắt Đèn của cụ Ngô Tất Tố. Ấy là tôi tưởng tượng ra thế, vì nhà cụ nghị Quế là nhà giầu, có giò lụa, chả quế ăn quanh năm mà lại.

Mẹ tôi đợi cho cha tôi bưng bát lên rồi mới cầm cái bát và gắp từ trong chõ ra một cái bánh sắn có mầu trắng ngà ngà, bỏ vào bát mình, rồi đợi cho cha tôi đưa vào miệng miếng cá đầu tiên, mẹ tôi mới đưa cái bánh sắn lên miệng mình, cắn, trong khi tôi đã ăn gần xong cả hai cái bánh.

Mẹ tôi than thở:

“Cũng chỉ còn có bảy mươi chín củ sắn nữa là hết, ông ạ. Hôm nay,“có cá thì vạ đến cơm”[1], nên tôi đã lạm chi thêm một củ”.

Cha tôi nghe thế cũng làm thinh, chỉ thấy trán cha tôi nhíu nhíu lại. Cha tôi biết, cả tháng nay nhà tôi toàn ăn bánh sắn như thế với canh rau rền, rau đay, rau muống hay rau mồng tơi hái ở vườn nhà. Cá, thịt đâu dám mơ tới. Sắn củ gác trên gác bếp cũng chỉ còn có bảy mươi chín củ.

*

Ba cái bánh làm bằng sắn gạc nai đen xì, khô cong còn hơn cả đất xét, chẳng biết có còn chất dinh dưỡng gì trong đó không, nhưng cùng với vài con cá diếc, mươi miếng đu đủ, cũng làm cho cả nhà tôi được một bữa ăn có chất.

Cha tôi vừa ăn vừa lo lắng, tiên đoán năm nay thời tiết có cái gì đó giống năm Một chín bốn lăm, chắc chắn sang năm có sự thay đổi lớn.

Mẹ tôi thấy cha tôi hứng thú với chuyện thay đổi cũng hưởng ứng, giọng rất chi là diễn viên đoàn văn công hôm về làng biểu diễn:

“Không thay đổi thì dân còn biết sống ra sao!”.

Thấy mẹ tôi có vẻ vui khi mong có sự thay đổi, cha tôi xì xì cái mũi:

“Đàn bà, con trẻ thì biết cái gì?”.

[1] Tục ngữ Việt Nam.

3 phản hồi to “Tiểu thuyết Cò hồn xã nghĩa (2)”

  1. Tin thứ Hai, 21-04-2014 | DÂN QUYỀN Says:

    […] – Tiểu thuyết Cò hồn xã nghĩa (2) (Bà Đầm Xoè). – Phùng Cung – Truyện và Thơ – Dạ Ký (DL). – TRÊN CHUYẾN TÀU VỀ QUÊ ĂN TẾT (Tương Tri). […]

  2. DDXHDS Điểm Tin thứ Hai, 21-04-2014 | doithoaionline Says:

    […] – Tiểu thuyết Cò hồn xã nghĩa (2) (Bà Đầm Xoè). – Phùng Cung – Truyện và Thơ – Dạ Ký (DL). – TRÊN CHUYẾN TÀU VỀ QUÊ ĂN TẾT (Tương Tri). […]

  3. BÁO DÂN QUYỀN : TIN THỨ HAI 21-4-2014 | Ngoclinhvugia's Blog Says:

    […] – Tiểu thuyết Cò hồn xã nghĩa (2) (Bà Đầm Xoè). – Phùng Cung – Truyện và Thơ – Dạ Ký (DL). – TRÊN CHUYẾN TÀU VỀ QUÊ ĂN TẾT (Tương Tri). […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: