Văn thơ Việt bé như chiếu hát xẩm

Nguyễn Hoàng Đức

 Để công bằng với văn thơ Việt quê nhà, chúng ta thử tham chiếu bài của những nhà phê bình lặn lội sống với văn thơ Việt nửa thế kỷ qua. Trong bài “Huyền thoại một thời” nhà phê bình Vương Trí Nhàn đã viết về cây cao bóng cả vang bóng một thời Nguyễn Tuân như sau:

Trong khoảng gần năm chục năm cầm bút, ông đã tạo nên quanh mình cả núi giai thoại, chính những giai thoại nửa thật nửa bịa đó là một chất dẫn truyền rất tốt để tác phẩm của ông có thêm cái lung linh mà người đọc phải cố tìm biết. Nhà văn đó là Nguyễn Tuân.

Ông không dám chỉ viết cho mình, viết cho đời sau, như cách sáng tác của cánh họa sĩ Nghiêm Liên Sáng Phái mà ông rất hiểu.
Ông chấp nhận làm theo đơn đặt hàng, và khi không thích làm thì nghỉ, chơi.
Trong thâm tâm, ông tự nghĩ cái tạng của mình là thế, mình cần làm thế để sống.

Đến với hiện tượng Nguyễn Tuân giờ đây, trong lòng không khỏi thoáng qua cảm tưởng thanh vắng y như đến chùa nhưng ngày hội đã hết, chỉ còn gác chuông, mái ngói và những pho tượng trầm tư.” 

 

Đấy, Nguyễn Tuân một ngòi bút có tri thức khá đủ, khá cao, vậy mà khi chúng ta nói thẳng với nhau, thì ông chỉ còn lại âm vang tiếng chuông không phải bằng đồng mà chỉ bằng những đơn đặt hàng cuộn lại, vì thế nó chỉ có được tiếng bồm bộp của giấy bồi. Ông là gốc to đã vậy thì những thứ nhánh nhỏ ăn theo các đơn đặt hàng sẽ ra sao? May mắn cho chúng ta, chúng ta  không phải nhìn chữ “sẽ” trong dự báo mà đã được chứng thực qua chữ “đã và đang” hơn nửa thế kỷ về thứ văn thơ hợp tác xã làm theo đơn khoán ăn theo nhu cầu. Chúng ta hãy xem tác giả Lại Nguyên Ân viết trong bài hội thảo “Hình thành, định hình, trưởng thành, phân hóa”:

 

Tôi là người cùng lứa tuổi với lớp nhà thơ ấy. Những lời khen tặng họ, đối với tôi, đã là việc của ngày xưa, khi họ mới xuất hiện, cần sự cổ vũ, hơn nữa, cả sự bênh vực, sự cảm thông. Còn bây giờ, những đại diện của lớp nhà thơ ấy đã ít nhiều họp thành một thứ “nhóm lợi ích”, mà rất có thể một số “lợi ích” họ cần bảo trì lại có cơ phương hại đến “lợi ích” của lớp nhà thơ đến sau, cũng tức là đến lợi ích của sự phát triển văn học.”

 

Thế là đã quá rõ với chúng ta bởi chính những nhà nghiên cứu phê bình “nằm chung với rận trong chăn”. Bóng dáng huyền thoại của Nguyễn Tuân chỉ có là giai thoại đã tuột mất mặt nạ của vũ hội giả trang. Còn các loại đa đề hậu bối chỉ là mấy ông lên cơn sốt cảm xúc trong một bài, rồi thành đại ca, ông kễnh, thậm chí đầu gấu đứng canh cửa văn chương, đem thơ của quê hương, ngành nghề mình, con cháu mình, bồ bịch mình vào thành nhóm lợi ích, ăn cây thơ mâụ dịch thì phải rào kỹ cây thơ chớ để cho kẻ nào có tài bén mảng đến gần. Còn các loại giám đốc, doanh nghiệp, hay tư nhân có tiền ư, hãy mở cửa cho họ vào thật đông. Loại này rất sẵn ví, còn cái gọi là tài năng của họ thì làm cho danh tiếng bọt xà phòng của chúng ta yên tâm nhất, bởi vì làm sao phải lo tâm hồn thơ dâng lên từ ruột tượng?! Chút tiếng tăm tài năng của nhóm lợi ích này có được chẳng qua là nhờ con mắt xuê xoa bao dung, lởi xởi của người hiểu biết.

Sau khi có những đánh giá tin tưởng bậc nhất, tôi xin được bàn vào giá trị của văn thơ Việt. Người Việt nói chung, văn thơ Việt nói riêng làm chúng ta luôn cảm thấy cái tài năng nhỏ mọn ăn theo nói leo của họ. Như Nguyễn Tuân nhìn kỹ cũng chỉ là thứ cà lơ vặt với mấy mẩu văn thơ ẩm thực làm dáng. Còn lại thì sao? Không nhìn thấy những gốc cây đại thụ, chủ yếu là những chiếc lá thơ dăm bảy dòng, cụ thể hơn là tứ tuyệt, bát cú, rồi còn non bấy hơn với thể thơ Hai-ku có hai câu rưỡi, còn có cả thơ nhất câu chạy băng qua cả trang giấy luôn. Sống dăm bảy chục năm ở đời mà chỉ ra nổi một vài tập thơ không có gáy mỏng như tờ rơi, lại còn biện hộ “hay không cốt dài”, chẳng nhẽ nhân gian Việt không phân biệt nổi túp lều với nhà ba gian, nhà năm gian và nhà bảy gian… Rồi cả nghìn người kiễng chân viết trường ca, nhưng lại không có nhân vật thì viết làm gì. Có một đại ca nổi tiếng hạng nhất thời chồng Mỹ kia, tưởng trường văn trận bút, nào ngờ viết trường ca có mỗi một nhân vật, nhân vật đó lại chỉ có mỗi hành động “gãi háng”.

Chúng ta xem phim Việt Nam thì thấy, các nhân vật nói rất dề dà chậm chạp. Tại sao? Bởi đó là ngôn ngữ của nông dân, văn hóa lúa nước, “từ từ khoai sẽ dừ”. Và cái tâm thức văn hóa nông dân này chỉ đủ sức ngê nga hát xoan, hát xẩm, hát chèo để mua vui chốn thôn dã. Một nhà nghiên cứu dân tộc có nói với tôi, mới đây, người ta thích dùng từ “chiếu chèo” nhiều hơn là “sân khấu chèo”, như vậy nghe đúng và ấm áp hơn. Nghĩa là tầm vóc của chèo ở mức chiếu thì hãy để nó về với chiếu. Thơ văn Việt cũng vậy, nó mới chủ yếu xuất thân từ tâm hồn thôn dã, mảnh ruộng phần trăm, hay tì tõm ruộng phèn, nên nó luôn mang bóng dáng của những manh chiếu đang lới lơ múa may làm dáng mua vui.

Khi tôi viết bài “Muốn có tác phẩm mới, Việt Nam nên vứt thơ đi!” đã không nhận được một đối thoại trực tiếp nào trao đổi hay đọ thơ, mà nhiều người nổi cáu kiểu giang hồ với ngôn ngữ “tao đếch thèm đọ, tao muốn xơi tái mày”… Việc này rất đơn giản, người Trung Quốc có câu: “Quân tử đấu khẩu, tiểu nhân đấu chân tay”. Muốn làm kẻ sĩ mà không chịu đấu lời với người ta, chỉ muốn dùng cơ bắp cho nhanh cũng là sở trường thật của mình, thì đó có phải là dạng vai u thịt bắp?! Có một số nhà thơ cóc nhái, chuột bọ khác tụ về một blog làm thơ chọc ngoáy tôi, rồi biện hộ rằng: “Vứt thơ đi ư, nó là lời ru của mẹ đấy!” Than ôi, tại sao người ta không hiểu như người Anh nói “lúc nhỏ bú sữa mẹ, lớn lên bú sữa cha?” Sữa mẹ chỉ là dinh dưỡng, còn sữa cha mới là tinh thần, công lý và vinh quang. Dăm bảy chục tuổi rồi, có mấy vần thơ mà lúc nào cũng đem vú mẹ ra làm bầu trời che chở, thì có khác gì thơ bú tí mẹ. Vậy tôi có một bài thơ nhỏ làm trong dăm phút để đáp lại:

Thơ thơ phú phú

Đú đởn mua vui

Khui chai rượu đế

Hát kiểu dế kêu

Bài ca vú mẹ

Nuôi con lớn lên

Nuôi con thật bền

Tuổi ngũ lục rồi

Con vẫn trong nôi

Ngợi ca sữa mẹ

*

Con hỡi con ơi

Già sao không lớn

Vú mẹ tóp teo

Sữa chỉ có thì

Đau rát con tim

Kìa chim còn non

Đã phải ra giàng

Con ong tách đàn

Con kiến rời hang

Con là con người

Sao không chịu lớn

Từ bé đến già

Sao cứ nghê nga

Mấy câu vần vèo

Đòi đeo vú mẹ

Hãy lớn con ơi

Tuổi đến mãn rồi

Quốc gia đại sự

Sao không ngó ngàng

Lại cứ lang bang

Mấy câu bú tí

 

Hà Nội rạng sáng 27/02/2014

Tôi xin kết thúc bài bằng một đoạn trích trường ca “Kẻ hành hương từ đời đến thơ”:

Hãy lên đường chân cứng đá mềm

Đừng luyến tiếc ở nhà với mẹ

Một hạt giống cứ ủ vào gốc mẹ

Mãi còi cọc chẳng thể nào lớn được

Con hãy bứt mẹ ra

Để trở thành một đấng nam nhi cường tráng

*

Bứt mẹ ra

Để trở thành một thân cây riêng rẽ

Bầu sữa mẹ khi xưa

Có thể nuôi con đang còn bé bỏng

Nhưng không đủ để dưỡng dục con

Trở thành một cây đại thụ

Con hãy ra đi

Hãy uống sữa đời

Sữa của mặt trời, mặt trăng, và muôn sao tụ lại

Rót xuống đất bao la nguồn ánh sáng

Dâng tràn những đỉnh non ngàn

Và chảy về sự sống

Con hãy uống lấy nguồn sữa đó

Để trở thành chàng trai của cha trời mẹ đất

Mái nhà tranh đây

Chỉ là quê con – đứa hài nhi bé bỏng

Nhưng ngoài kia bầu trời thiên hạ bao la

Mới là Quê Đời – cho con sống

 

Xin cám ơn! Và xin trở lại đề tài này với tầm “leo thang” hơn.

NHĐ 01/03/2014

2 phản hồi to “Văn thơ Việt bé như chiếu hát xẩm”

  1. rứa văn đó Says:

    SỰ TÍCH THỊT CẦY BẢY MÓN
    Ngày xưa ở vùng nọ có một bà xinh đẹp nhưng tính tình nóng nảy, hung hăng.
    Chồng của bà là một ông quan vừa giỏi việc triều đình lại vừa ham thích thơ. Một hôm, nhân lúc vợ đi vắng, ông chồng rủ 6 người bạn trong Câu lạc bộ thơ tới nhà nhậu nhét và bàn chuyện thơ phú. Cả bọn say sưa đọc thơ, bình thơ, khen nhau, tán nhau như phường tuồng, quên cả trời tối. Bọn trộm nhân cơ hội đó lẻn vào cổng sau vét sạch đồ nhà bếp. Mãi đến tối om bà vợ mới về đến nhà, vào bếp, thấy cái bếp trống không, mới nổi tam bành lên. Nhưng vốn là người đã được phổ cập miễn phí về văn hóa, bà nén được cơn giận, đến bên chồng thẽ thọt. Cuộc đối thoại đã diễn ra như thế này:

    Mấy anh đây là bạn thân của anh hả?
    Ừ, rất thân
    Cả ngày ni mấy anh mần chi
    Mần thơ
    Mần thơ á? Sao lại mần thơ?
    Thì răng?
    Em lạ quá! Mấy anh, trông anh nào mặt mũi cũng lương thiện, sáng sủa chứ đâu có phải ma cô, đàng điếm gì, chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào lại rủ nhau đi làm thơ!

    Bà vợ mới nói tới đó, thì anh chồng, để giữ thể diện trước đám bạn thơ, đã đứng lên, thẳng cánh, xáng một cái bợp tai trời giáng vào giữa mặt vợ.
    Như đã nói, bà vợ vốn là người có văn hóa, nên không có cái thói bù lu bù loa như mấy bà hàng xén quanh siêu thị, chỉ lặng lẽ, lấy tay chùi nước mắt, lặng lẽ ra khỏi nhà, lặng lẽ khóa cửa, khóa cổng rất cẩn thận, nhẹ nhàng như người vợ hiền thục.

    Không biết vì sao, sau đó khoảng vài chục phút, trong lúc các nhà thơ của chúng ta đang say sưa tán thưởng sự kỳ diệu của các biện pháp tu từ trong thơ siêu thực, thì một ngọn lửa dữ dội bùng lên, trùm lấp căn nhà.

    Xe cứu hỏa được điều đến, nhưng ra giữa cầu thì bể ốc neo, cầu nghiêng một bên, xe rơi xuống suối.

    Cháy một hồi, mỏi, lửa cũng phải nghỉ giải lao. Khi đó người ta mới chạy đến thì thấy một chuyện lạ lùng: giữa nhà là xác 7 con chó được thui đúng quy trình, thơm lừng mùi … thịt chó.
    Dân làng nghi là nhà này có ma. Theo lệnh của thầy mo trưởng bản già làng, người ta phải làm một cỗ cúng để cúng Giàng, trừ ma. Đồ cúng được chế biến từ 7 con chó đó, mỗi con thành một món. Cúng xong, theo tập tục “trước cúng sau cấp”, đồ cúng được mang ra chiêu đãi cho cả làng. Hôm ấy, không gian u ám, sương giăng mờ mịt. Bữa tiệc vừa xong, thình lình giữa trời vang lên một tiếng sét, tiếp đó chói lòa lên một luồng ánh sáng, trời đất sáng trưng, mát mẻ, cây cối rạo rực đơm hoa, chim ca vượn hót tưng bừng, nam thanh nữ tú đi lại dập dìu, ôm ấp nhau rất là âu yếm. Cảnh tượng đó kéo dài mãi không dứt, nhân dân vô cùng hoan hỉ hạnh phúc. Ai cũng tin rằng, sở dĩ, mọi thứ trở nên kỳ diệu như vậy là nhờ có bảy món thịt chó kia. Để thống nhất quan điểm, Hội đồng dân bản bèn tổ chức Đại hội, ra nghị quyết công nhận 7 món thịt chó kia là “bản nhục”, nghĩa là thứ thịt đặc trưng của bản, coi như là “bản hồn, bản túy” vậy.
    Do đó, món thịt chó 7 kiểu này được dân bản tôn thờ như một vị thần mang lại may mắn và hạnh phúc. Trong các lễ hội, trong liên hoan tiệc tùng, bao giờ dân bản cũng lấy món này làm đầu vị. Lâu dần, việc ăn 7 món thịt chó đã trở thành một tập tục có ý nghĩa tâm linh tín ngưỡng. Ngày nay, nhờ vào các thành tựu khoa học kỹ thuật, 7 món thịt chó xưa được cải tiến thành vô số phiên bản (mà bọn Tây ngu ngốc gọi là “vơ-xi-ân”) với những cái tên mỹ miều xoay quanh chữ “Mộc Tồn”.

  2. traumong Says:

    Ở ta, nhà văn, nhà thơ và cả nhà báo nữa là rất hiếm; Vì những nhà này phải là người trung thực, đưa tin khách quan. Hầu hết là “Bút chắc trong tay gìn giữ lương ăn” – Những nhà tuyên truyền cho một thể chế lỗi thời mà họ kiếm chác.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: