Văn Thơ Đặng Ái

 Lời Bà Đầm xòe:

Nhà xuất bản Thanh Hóa vừa phát hành “Đặng Ái – Tác phẩm” (trọn bộ 53 cuốn, đã hoàn thành 3), bao gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch và thơ. Đặng Ái tâm sự với nhiều người “Hồi này mình chẳng thể viết được gì nữa” với một giọng rất chân thành, làm tôi tin là anh nói thật lòng, nó đối lập với rất nhiều nhà văn, đặc biệt là nhà thơ khi luôn mồm nói rằng “mình có một cuốn tiểu thuyết vĩ đại đang ấp ủ viết”.

Tôi không biết là vui hay buồn trước thông tin này của anh.

Anh không viết nữa, nhưng anh đã có một tuyển tập gồm năm quyển dày cồm gói cả đời anh ở trong đó, kể như anh cũng đã hoàn thành nghĩa vụ của một người đã sống qua một vận hội của một đời người rồi còn gì. Viết hay không viết nữa nó cũng chỉ như thêm rau thêm cỏ vào cái mâm cỗ đã có nhiều rượu thịt trong đó mà thôi.

Văn Truyện Đặng Ái, tôi đọc từ cuối những năm sáu mươi của thế kỷ trước. Không dám nói là đọc hết, nhưng là đọc nhiều. Có thể nói, Văn Truyện của Đặng Ái không có nét riêng gì đặc biệt, từ bút pháp đến cốt truyện, nhưng Văn Truyện nào của anh cũng chân thành như con người anh vậy. Đọc anh, người đọc sẽ cảm nhận được sự chính xác của người Việt Nam, đặc biệt là người xứ Thanh, vớí tâm thế, tính cách trong sản xuất, học tập và chiến đấu trong giai đoạn chiến tranh và sau chiến tranh như thế nào.

Văn Truyện của anh là sự tái hiện vừa chân thành vừa chính xác cuộc sống. Đọc anh là thấy như cuộc đời thực đang chuyện trò, vui cười hay hờn giận trên từng trang văn của anh. Anh không thêu dệt, huyền hoạc hay rảy nước hoa, choàng lụa mỹ miều lên mặt cuộc sống. Anh luôn anh trung thực với cuộc sống, dù họ là ai, ở vị trí nào trong cuộc sống và thang bậc của xã hội.. Đó cũng là một phẩm cách của anh mà không phải nhà văn Việt Nam nào cũng có được. Nhân anh in tuyển tập, nhân anh “tuyên bố” ngừng viết, trang blog Bà Đầm xòe xin trân trọng giới thiệu một truyện ngắn đặc sắc và một chùm thơ trích từ tuyển tập “Đặng Ái – Tác phẩm” do Nhà Xuất bản Thanh Hóa vừa mới phát hành.

Mời bạn đọc thưởng thức.

1. Văn:

Truyện ngắn: Cậu Hoè tôi

Biết tin cậu Hoè đã có giấy phép xuất cảnh, mẹ tôi không mừng, nhưng nói giọng nhẹ nhõm:

– Thôi, cậu ấy đi cũng được. Chắc là cậu ấy đã suy nghĩ kỹ. Có thể đỡ khổ hơn. Mà đâu phải riêng cậu ấy? Cả mợ ấy và mấy đứa trẻ. Nhất là mấy đứa trẻ… Anh Long thu xếp đưa mẹ đi Sài Gòn một chuyến thăm cậu. Gọi là chị em gặp nhau lần cuối cùng. Bốn năm chục năm qua, dễ cậu âý già lắm rồi. Xem nào…

Mẹ tôi bấm đốt ngón tay, tính mãi chả ra cái tuổi cậu. Một đời người bao nhiêu sự kiện ghê gớm, ai nhớ được năm nào với năm nào. Nhưng mẹ tôi nhớ cậu em trai trắng trẻo, thông minh, học giỏi, ngoan ngoãn…Tuyền những đức tính của đứa trẻ lên mười dưới mắt của bà chị mười tám dứt áo theo chồng.

1

Tôi vừa thu xếp xong công việc, chuẩn bị đi thì lại nghe tin cậu Hoè đã chết. Cái chết của cậu thật oái oăm, chẳng đúng lúc chút nào, ít nhất là đối với vợ con cậu: Cậu chết ngay trong bữa tiệc chia tay bằng hữu. Sao thế nhỉ? Đéán giờ tôi cũng không biết chắc được vì sao cậu lại uống quá nhiều ruợu vào cái buổi tối mà cả nhà cậu đều nhắc nhở không cho cậu uống nhiều ấy. Cậu thấy quá buồn, quá chán? Vì phải lòng vòng mất mấy chục năm? Vì buộc phải bóp chết nguyện ước của mình cho mọi người trong nhà được như ý?… Chịu! Chỉ biết là cậu bịt đứt mạch máu não do uống  nhiều, nói nhiêu, cười nhiều,  và cả khóc nức nở nữa…

Dường như không xúc động, mẹ tôi bảo:

– Thôi, cậu âý chết rồi. Mẹ vào cũng chẳng tích gì. Anh Long cứ đi công tác bình thường. Ghé qua thắp cho cậu ấy một nén nhang.

Ngồi trên máy bay tôi chập chờn nhớ lại những gì liên quan đến cậu Hoè…

xxx

Hồi đất nước còn chia làm hai miền, thỉnh thoảng nhà tôi lại nhận được một tấm thiếp từ miền Nam gửi ra. Thiếp là một giấy bìa cứng bằng bàn tay có in sẵn những chỉ dẫn cần thiết cho việc gửi nhận. Tất cả tình cảm tâm tư của người gửi chỉ được bó gọn trong mấy dòng, phơi ra dưới mắt đội quân kiểm soát của cả hai bên.

Nhận được tin tức người thân thì mừng.

Song mỗi lần người đưa thư réo gọi ra nhận thiếp, mẹ tôi cứ tái mặt đi vì sợ. Bà lấm lét nhìn ra đường, nhìn hai bên hàng phố xem có ai thấy không? Bà lo sợ là đúng, bởi vì có người thân di cư thật khó tránh khỏi nghi vấn phiền toái. Bà thì thầm van vỉ người đưa thư:

– Bác ơi, lần sau có thiếp, bác giữ gìn cho nhà em với, gọi khe khẽ thôi!

“Anh chị và các cháu vẫn khoẻ, làm ăn bình thường. Bà dạo này có được khoẻ không? Cầu mong cô chú cùng toàn thể gia đình bằng an. Nhận được thiếp báo in cho anh chị biết…”

Những lá thiếp na ná như thế, bằng thứ chữ to khấp khiểng viết bằng “bút nguyên tử” làm xao động cuộc sống của gia đình tôi. Người viết thếp là bác Quyến anh trai mẹ tôi.

Quê ngoại tôi, một làng nhỏ gần thị xã Ninh Bình.

Năm vài lượt, cả nhà kéo về quê, trên chiếc xe tải nhỏ, xe nhà. Tôi nhớ, xe đến đầu làng, bố tôi thường bóp còi inh ỏi biết chắc rằng cả làng sẽ xô ra đón. Và chúng tôi, tôi và mấy đứa em, sà vào vòng tay quê kiểng ấm áp của họ ngoại. Cũng có khi chúng tôi về bằng xe lửa. Nhưng đó là khi tôi và bầy em đã lớn chút đỉnh không muốn phụ thuộc vào chuyến xe thất thường của bố.

Bà ngoại thường chỉ mặt tôi mắng yêu:

– Cha mày! Giống thằng Quyến như tạc. Trông kìa, đầu gối quá tai, giống thế chứ lị!

Một câu mắng như thế làm tôi sướng tỉnh người.

Thời Pháp thuộc bác Quyến làm công chức ngành bưu điện. Một thứ công chức chuyên vận chuyển thư trên đường sắt. Sau cách mạng ông được trưng dụng làm việc cho chính quyền mới. Nhưng tính khí hoang tàng ngang ngạnh, chẳng hợp với kỷ luật cách mạng. Ông bỏ về quê ở với vợ con. Rồi Tây tấn công. Vợ con ông chết trong hang núi vì đạn liên thanh nã từ máy bay. Sau đó làng ngoại tôi trở thành vùng bị chiếm. Bác Quyến tôi thì buồn chán nghiện ngập, làm khổ ông bà ngoại tôi rất nhiều. Có lần ông bươn được vào vùng tự do thăm vọ chồng cô em gái, ở tận một làng tản cư xa tắp. Ông ở chơi mấy ngày, đội mũ phớt, quần tây, ăn nói ngang phè, dân quân nghi là gián điệp, muốn bắt. Bố mẹ tôi phải van xin các nhà chức trách, ông mới thoát thân trở lại vùng tề!

Sau đó làn sóng di cư vào Nam. Bác Quyến tôi đi theo dòng người thất tán đó mang theo cả cậu Hoè lúc ấy mới mười bốn mười lăm đang học ở trường dòng Bùi Chu – Phát Diệm.

Bác Quyến tôi vào Nam, cưới luôn một người đàn bà đồng hương gặp trên chuyến tàu di cư, sinh con đẻ cái, làm ăn, nuôi cậu Hoè học hành, dựng vợ gả chống cho cậu.

Sau khi nước nhà thống nhất, tôi mới được thấy bác. Một ông già cỡ sáu chục, gầy đen, vẻ nghiện ngập, giọng lè nhè. (Thế mà bà ngoại bảo tôi giống bác!) Từ Sài Gôn, bác tìm ra thăm chúng tôi. Bác ngồi khoanh tròn trên sập gụ, hét đá lạnh để uống với rượu.

– Ủa! Không có đá hả. Đi kiếm chút đá đi. Không có đá uống ruợu dở ẹc à!

Lúc ấy ở miền Bắc chưa có thói quen dùng đá. Mẹ và em gái tôi chạy toát mồ hôi mới kiếm được cục đá bỏ lọt thỏm trong chiếc cốc vại, chưa tàn bữa nhắm của bác đã thành nước lã hết. Bác Quyến vừa nhắm ruợu vừa chuyện nam bắc tây đông, chả chuyện nào ra chuyện nào. Cái giọng bác cùng vậy, lợt xợt nước lợ, á Bắc á Nam nghe rất ngộ. Đã thế bác lại nói rất to. Mẹ tôi luôn miệng nhắc:

– Anh Quyến, anh nói nhỏ chứ! Mà thôi uống đi!

Ấy là mẹ tôi sợ xảy ra những chuyện lôi thôi như hồi kháng chiến chống Pháp.

Ngôn ngữ của bác toàn là ông Việt cộng, ông quốc gia, thằng bộ đội, thằng Mỹ. Bác không phân biệt phi nghĩa, chính nghĩa, địch ta gì cả? Bọn tôi nghe mà lạnh cả người. Nhưng rât may không có chuyện gì xảy ra cả.

Bác Quyến đưa cho mẹ tôi mấy tấm ảnh về gia đình cậu Hoè, ngất ngưởng mắng:

– Thằng này mặt mũi sáng sủa thế mà ngu. Mới đại uý đã khai là thiếu tá. Ở trại cải tạo lại nhe răng ra cãi lý với các ông cán bộ!

Bác kể về những nỗi cơ cực của cậu Hoè cứ dửng dưng, như kể chuyện người qua đường. Có thể là bác đã trải qua nhiều thăng trầm nhăng nhố ở đời nên chẳng còn biết gì đớn đau, xúc động.

Tôi đã nhiều lần ngắm những tấm ảnh cậu Hoè. Tuy chưa một lần gặp cậu, nhưng mỗi lần nhìn ảnh tình máu mủ cứ rân rân trong lòng. Đó là một người đàn ông có dáng cao, khuôn mặt to, trán dô, cặp mắt tươi sáng. Cậu Hoè mặc chiếc áo véc màu sẫm, quần ống hẹp. Chiếc cravát gió lật bay trước ngực. Cạnh cậu là một người đàn bà thấp hơn một chút, đẹp nồng nàn, tóc uốn. Đó là mợ Hoè tôi. Mợ mặc chiếc áo phông trắng ngắn tay và cũng chiếc quần âu trắng. Trên cổ mợ lủng lẳng chiếc dây chuyền to. Mợ bồng trên tay một đứa nhỏ bụ bẫm. Con Bình, em họ tôi. Đứng giữa cậu mợ là thằng Ninh, chừng sáu bảy tuổi, trong bộ đồ sĩ quan, có cả mũ kêpi. Cả gia đình bốn người đứng trước chiếc xe Jeep. Phía sau chiếc xe là một ngôi biệt thự nhỏ, tổ ấm của cậu mợ. Tôi đồ chiếc xe Jeep đó là của công, phương tiện để cậu Hòe thi  hành công vụ.

Tấm ảnh được chụp trước ngày Sài Gòn giải phóng một vài năm. Vì ngay sau giải phóng, cậu Hoè đã đi học tập  cải tạo.

Về chuyện trình diện chính quyền cách mạng để đi học tập cải tạo của cậu Hoè cũng có chuyện lôi thôi, làm hại cậu ghê gớm. Số là cậu tốt nghiệp trường luật, cầm cái bằng luật sư chưa kịp hành nghề thì quân đội để mắt tới. Mãi sau cậu được thăng hàm đại uý. So với bạn bè trang lứa thì thấp hơn một vài bậc. Cậu vẫn hậm hực sĩ diện về chuyện đó. Đầu tháng tư bảy lăm, cậu nghe phong thanh đã có quyết định thăng hàm thiếu tá. Khi đến trình diện, người ta hỏi cấp gì? Thiếu tá, cậu trả lời. Sao mang lon đại uý? Bởi chưa nhận lon mới. Vậy là đại uý. Không không, tôi là cấp tá, đâu phải đại uý quèn! Người sĩ quan giải phóng nghiêm mặt nhìn cậu: Tôi khuyên anh chỉ nên nhận là đại uý thôi! Ủa, sao dậy? Tôi là thiếu tá, xin quý ông cứ ghi là thiếu tá!

Nói xong cậu về. Vậy là cậu thành thiếu tá chính thức. Bởi là cấp tá nên thời gian cải tạo lâu hơn cấp uý rất nhiều. Nhưng việc đó mãi sau này cậu mới biết. Ăn năn không kịp. Mà cũng chẳng ăn năn!

Thời gian đầu cậu ở các trại trong Nam, sau đi tuốt lên tận vùng núi phía Bắc. Khi chiến tranh biên giới xảy ra, cậu Hoè lại được chuyển về trại Năm Sao. Rồi lại chuyển đến một trại ở Tây Nguyên. Sau rốt được phóng thích! Kể từ ngày cậu khăn gói đi tập trung cho đến lúc đó, 9 năm trời.

Dạo cậu Hoè nằm ở trại Năm Sao thỉnh thoảng mợ Hoè lại ghé nhà tôi. Mợ già và gầy chứ không như trong tấm ảnh, lần đầu tiên gặp mẹ tôi, mợ khóc nức nở. Mẹ tôi cũng khóc, rồi gửi quà cáp cho cậu, giò, chả, thịt băm, cả nước mắm nữa. Mẹ tôi muốn gặp cậu nhưng nghĩ tuổi tác, đường xa, trèo non lội suối, không kham được. Còn bọn tôi cũng muốn gặp cậu nhưng bận công việc, song chủ yếu là e sợ một cái gì đó…Dẫu sao cậu cũng là sĩ quan địch!

Đến thăm chồng về, mợ Hoè kể: Nhà em mập lắm, đen troạy. Mập hơn ngày còn làm quận trưởng (Tôi chẳng tin, nhưng sau biết đó là sự thật). Nhà em vui lắm,  bảo chị và các cháu đừng lo lắng gì. Ở trại vui, cán bộ đối xử tử tế. Nhưng chị đừng gửi quà như thế. Ăn mệt lắm. Chị cho nhà em một ít thuốc lào, tháng sau em ra, mang vào cho ổng. Các ông trong trại không thiếu ăn, chỉ thiếu thuốc hút. Thèm lắm.

Từ đó mẹ tôi chỉ gửi thuốc lào.

Ngày đi sơ tán chống Mỹ nhà tôi ở gần làng Thượng Đình, nơi có giống thuốc lào ngon nổi tiếng: sợi vàng cánh gián, nhỏ mịn như sợi tóc, hương thơm, đượm khói. Mẹ tôi nhắn mấy bác nông dân quen ở làng ấy mang lên, thứ ngon nhất. Năm học lớp chín tôi đã hút điều thuốc lào đầu tiên ở đó. Vẫn nhớ thằng bạn bủn xỉn chỉ vê cho một điếu bằng hạt ngô nhét vào nõ. Rít một hơi, thuốc ngấm  vào ngực thun thút, phút chốc nằm vẩta, đê mê! Thứ thuốc đó, hèn chi mà cậu tôi và các tướng ở trại cải tạo không thích kia chứ!

Một bữa ở trại về, mợ Hoè mang cả bánh kẹo, quà cáp cho mẹ tôi, cho chúng tôi. Mẹ tôi tròn mắt ngạc nhiên:

– Chết, sao mợ lại làm thế! Tiền đâu?

Từ ngày cậu Hoè đi học tập cải tạo, gia đình đã lâm vào tình trạng sa sút. Cái trại heo ở ngoại thành đủ nuôi tới hai trăm con, tắm rửa  cho chúng bằng bơm corle đã phải bán đi. Căn nhà trong tấm ảnh cũng thuộc về chủ  khác. Sợi dây chuyền của mợ và những đồ nữ trang tích cóp được tất nhiên đã ra đi trước đó. Thì mợ làm gì ra tiền  nuôi hai đứa nhỏ, nuôi cậu trong trại?

Mợ Hoè phấn khởi khai:

– Chị đừng lo. Tiền của ổng đấy!

– Ở trong tù mà vẫn có tiền à?

– Vâng, ổng kiếm được mà chị. Bằng thuốc lào đó.

Theo mợ kể thì các tướng tá trong trại (cái trại của cậu Hoè chỉ có từ cấp tá trở lên) tất cả đều nghiền thuốc lào và phần lớn gia đình họ đều giàu có. Người ta nhận tiếp tế đồ ăn thức uống và cả tiền nữa. Cậu Hoè có thuốc lào. Thoạt tiên là đổi, sau rồi bán. Khách mua hàng của cậu dần dà không chỉ có tướng tá tù binh, mà có cả cán bộ nữa. Tất nhiên với cán bộ quản giáo cậu bán rẻ hơn chút đỉnh.

– Đây nè chị, tiền nhà em gửi về phụ với em nuôi các cháu.

Mợ xoè ra một nắm tiền, có cả những đồng đô-la thời gấy còn là quốc cấm.

Từ đó, mẹ tôi mua thuốc lào nhiều hơn.

Nhưng chẳng được bao lâu cậu Hoè chuyển vào Tây Nguyên.

Một năm sau ngày bác Quyến tôi mất, tôi đi Sài Gòn. Bác Quyến gái buôn bán vặt, ghi số đề ở đầu ngã tư Hàng Sanh, nhà cửa thưng ván ép, lợp tôn nghèo nàn. Bác đưa cho tôi cái địa chỉ dài dằng dặc ở quận Tân Bình:

– Cậu Hoè mới được ra, anh nên đến thăm cậu đi!

Nhờ có thằng bạn làm thơ vào thành phố từ thời Ba mươi tháng tư, với chiếc xe đạp cọc cạch của nó mà tôi tìm được nhà cậu Hoè.

Cậu Hoè mập thật. Nhưng uể oải, rề rề, chẳng còn cái phong độ như trong tấm ảnh. Đã thế mặt đầy râu cậu cũng không buồn cạo. Thằng Ninh đã vào tuổi 20, mặt sần sùi, mắt hùm hụp. Mợ tôi phàn nàn, nó không kiếm được việc làm dính vào cờ bạc, lại cả ma tuý nữa, rõ khổ. Con Bình mười sáu tuổi, đã bỏ học, miệng bôi son đỏ choét. Bốn người ở trong một gian nhà nhỏ tăm tối, ẩm mốc. Nhìn gia cảnh cậu, lòng tôi đầy u ám.

Cậu Hoè nói, cũng giọng nước lợ kiểu như bác Quyến:

– Được như thế này là đại phước rồi. Ơn nhờ mợ anh cả. Nếu bả không đôn đáo, dám tôi không còn nơi chui rúc. Mấy thằng bạn gia cư đồ sộ hết trọi rồi!

Bữa cơm tôi và cậu ngồi đối tửu, mợ ngồi chầu ghế bên. Thằng Ninh thấy anh đến nhếch mép hớn hở được một lát, đã chuồn từ lúc nào. Con Bình làm nhanh hai miệng bát cơm xin đi “có chút diệc”.

Cậu Hoè giơ chai rượu đế lên:

– Tôi với anh uống cho say! Không sợ thiếu. Hết, mợ anh đi lấy nữa!

Nhìn hai ly rượu đầy trong vắt tôi rất sợ phải trăm phần trăm theo kiểu Nam bộ. Nhưng may thay cậu Hoè không hô theo kiểu đó, cậu nhâm nhi tùng ngụm nhỏ, đúng phong cách Bắc Kỳ.

– Anh là ký giả chắc là được đi nhiều nơi?

– Vâng, thỉnh thoảng cháu cũng đi đây, đi đó!

Cậu trầm ngâm nói:

– Ngày trước tôi đi nước ngoài nhiều, ít biết trong nước. Ơn nhờ học tập cải tạo mới được đi nhiều trong nước. Đất nước mình dài thật. Trên bản đồ bé tí tẹo, “dậy” mà đi hoài, đi hoài không hết!

Mợ tôi chêm vào câu giễu cợt âu yếm:

– Cậu anh thích đi, bị cán bộ cho ăn đòn đó.

Cậu cười ngất:

– Ủa, có sao! Mình là thằng ngố, ăn đòn là phải thôi!

Rồi cậu kể tôi nghe, đại ý: đó là chuyến xe lửa chở tù từ biên giới phía bắc về Năm Sao, tránh cuộc chiến sắp nổ ra. Tàu chạy đêm, hun hút, chỉ với một ngọn đèn mờ treo trên nóc. Không ai bị còng tay còng chân. Chỉ có một người lính gác ở đầu toa. Hành khách đi qua toa tù tự nhiên như không. Cậu Hoè bắt chước xem sao. Anh lính gác không hay. Cậu cứ đi dọc đoàn tàu, chợt gặp toa phục vụ ăn uống. Sẵn tí tiền trong túi, cậu ngồi xuống một bàn chờ đợi. Chung quanh thiên hạ ăn uống rào rào. Mùi phở thơm điếc cả mũi. Cậu cứ ngồi chờ. Nhưng dường như không ai biết có cậu ngồi đó để mà hầu hạ. “Muốn ăn thì phải đi mua vé”, người ngồi cạnh nhắc. “Vé hả, vé là cái gì?” “Trời đất, ông không biết vé ăn là cái gì à? Làm như ở trên trời rơi xuống ấy. Thế thì cứ ngồi đó”.

Thấy một người đeo tạp dề đi ngang, cậu Hoè gọi giật lại:

– Ê…bồi! Sao để moa chờ lâu dậy hả?

Giọng cậu khá gay gắt, với lại ngôn ngữ lạ tai của cậu làm người ta đổ xô mắt nhìn…

Một lúc sau có bàn tay cứng như sắt thộp lấy ngực cậu:

– Bồi hả? Ở đây chỉ có đồng chí phục vụ thôi nghe chưa. Mày định trốn hả. Trốn đâu cho khỏi tai mắt nhân dân!

Cậu Hoè bị điệu về toa tù, lĩnh thêm một cái khoá dính chặt vào thành ghế.

Cậu cười dễ dãi:

– Nghe nói người lính gác hôm ấy bị thượng cấp kỷ luật. Mình chơi như dậy, ăn đòn không oan à!

Tôi rất mừng là cậu không thù oán chế độ mới, ngay cả khi cậu chê bai một số bệnh tật của nó. Tôi chống đũa hỏi cậu:

– Trước khi giải phóng vào Sài Gòn, rất nhiều người đã di tản, cớ sao cậu mợ không đi?

Cậu tôi hợp một ngụm ruợu lớn, tắc lưỡi:

– Bây giờ mợ anh và mấy nhỏ cứ cắn rứt tôi về chuyện ấy. Nhưng bả làm sao biết được lòng tôi lúc đó? Tôi được người Mỹ thu xếp cho đi từ ngày 28, cả nhà. Tôi thừa thời gian để chuẩn bị ra đi, mang theo tất cả những gì cần thiết. Nhưng tôi đã chán sống ở nước ngoài. Tôi từng du học ở Mỹ, tôi đã ở châu Âu, châu Úc…Họ xưng là bạn mình đấy, nhưng tôi biết họ khinh mình lắm. Tôi thấy không ở đâu sung sướng bằng ở nhà mình, đất nước mình. Ở lại, nếu giải phóng có bắt tội chết thì cũng được chôn ở đất mình. Vả lại tôi có mở rađiô nghe giải phóng hứa sẽ không tắm máu, không trả thù…Tôi tính chuyện sẽ mở một văn phòng luật. Sống giữa đất nước thanh bình, không còn chiến tuyến bắn giết lẫn nhau, “dậy” là lý tưởng quá rồi! Ra nước ngoài làm gì cho bơ vơ, nhục nhã?

Thế là cậu Hoè tôi khước từ cuộc di tản, đóng cửa ngồi chờ quân giải phóng. Khi có lệnh của ban quân quản, cậu hăm hở đi ghi tên liền. Y chang mơ ước, cậu Hoè không bị bắt mà được cho về nhà ngay, với một lời dặn nhẹ nhõm: khi nào có chủ trương mới, thu xếp đến liền, nghe!

Ngọt ngào quá. Cậu Hoè mở sâm banh ăn mừng nước nhà độc lập, thống nhất.

Rồi cậu đi học tập chín năm liền. Rồi cậu cắn răng làm đơn xin đi Mỹ. Rồi khi được chấp thuận, cậu mở tiêc ăn mừng…

 2

xxx

Thằng Ninh đưa tôi đến chỗ đặt bàn thờ ba nó. Sau lưng, con Bình và mợ Hoè thút thít khóc. Đặt đồ phúng viếng của mẹ tôi lên bàn thờ, tôi bật que diêm châm  nén nhang, không giữ được đôi tay run rẩy. Trong tấm ảnh phóng to phủ khăn đen, cậu Hoè nhìn tôi bằng đôi mắt tươi sáng. Tôi tự an ủi, đẫu sao cậu Hoè cũng đã toại nguyện: Cậu đã được ở lại, ở lại mãi mãi với  mảnh đất đã sinh ra cậu.

1996

2. Thơ Đặng Ái

 

Aó cơm, trang sách

Cái thuở viết trăm trang sách

Suốt ngày bụng đói mắt hoa

Giờ tạm đủ ăn, đủ mặc

Một dòng nghĩ mãi không ra

Có phải bát cơm trang sách

Không cùng nhau một lối di?

Hay hồn người đã dẻ rách

Trái tim lạnh lẽo trơ lì?

Chú hề

Quần ống thấp ống cao mặt nhọ

Đích danh bần cố ở làng quê

Bước lên sân khấu ngơ ngơ

Chú hề!

Hát và múa chua ngoa nheo nhéo

Những trò say, trò điếc, thói cù lần

  Nhạo báng vua quan rồi bịt mồm sợ hãi

Trêu chọc gái quê lại ngơ ngẩn làm thương

Chú hề!

Thì sợ hãi là hề

Đến khóc thương cũng là hề nốt

Trống mõ là hề

Sống áo cũng hề thôi

  Chỉ cây gậy tre với dáng người liêu xiêu queo quắt

Là thực như những kiếp thực ngõ làng

Chỉ mơ ước hết cảnh đời cơ cực

Là thực như mộng mị những trăng suông

  Hăm hở bước từ làng ra phố

Từ sân đình lên mặt ti vi

Xưa nhọ bếp nay phẩm màu xanh đỏ

Vẫn thế thôi

Vẫn một kiếp hề

Chuông bấm mấy lần

Chuông bấm mấy lần mới có kẻ ra mở cổng

Phòng khách mênh mông, một chén trà và một mình ta

Chén trà lạnh

Mà thằng bạn vẫn không ra tiếp bạn

Nó còn bận thì thầm chuyện làm ăn hoặc nghi

                                                  kẻ ngồi chờ kia  cầu cạnh điều gì

Ô cái thời nghịch đất nghịch cát

Cái thời quần vá đít ngày xưa

Cái thời chia với nhau nắm bột mì luộc

Mày chép bài của tao để tránh bị điểm một

Nhờ tao lén đút lá thư tình vào vở người ta

Cô bé ấy giờ đã thành bà

Khuyên mọi người chớ đến bấm chuông nhà mày

                                                          để giữ lấy chút hơi ấm cũ

    Ôi giá như tao tin lời cô bé

Đâu phải ngồi trơ, chén nước lạnh, một mình tao

Thời kinh tế thị trường

Bó rau muống mơn mởn tươi xanh

Còn phải hỏi có là rau sạch

Quả cà chua chín mọng thế kia

Cái màu đỏ căng thật đáng hồ nghi

Thời kinh tế thị trường lắm nghi ngờ đến thế

Bọng mật ở trong vườn, giọng ca ở ti vi

Ông tiến sĩ kia bằng thật thật hay rởm

Cô em ngây thơ, ngây thơ thật hay vờ

   Thời kinh tế thị trường

   Người ta sống giữa thật hư lẫn lộn

   Anh làm sao khi chỉ biết thật thôi

   Nhưng xin hỏi cái sự thật của anh có là sự thật

Mà anh mang như vật báu truyền đời

Người đàn bà vùng cao

Người đàn bà vùng cao ngồi bên đường lặng lẽ

Chị bày bán những quả mận, quả đào, những túm rễ cây

Chị đến đó tự nơi nào chẳng cần ai biết

Những dãy núi xanh, xanh mờ mịt phía xa kia

Chung quanh chị cũng những người lấm lem, lam lũ

Màu chàm bạc khô giữa nắng ngột chang chang

Lặng lẽ bán mua, lặng lẽ gom những đồng bạc lẻ

Những ngón tay sần sùi, những khuôn mặt nám đen

Dễ đã quá ngàn năm chú ngựa đứng rũ bờm giữa chợ

Khói ngàn năm chảo thắng cố với tiếng khèn trầm

 Người đàn bà lặng lẽ  mang nghìn năm đói khổ

 Mây đỉnh trời vẫn nhơ nhởn tươi mới nghìn năm

Những chiều bình yên

Những buổi chiều bình yên trên quê tôi

Hương lúa đồng dòng sông êm trôi

Người con gái buông tóc mềm tha thiết

Mắt mộng mơ xao xuyến cả bàu trời

Những buổi chiều ngày xưa trên quê tôi

Bom súng thù, lửa cháy nơi nơi

Người con gái đẹp xinh như mơ ước

Khoác ba lô từ biệt mẹ lên đường

Bao năm rồi bao nhiêu năm qua

Chiến trường xưa, chiến trường đã xa

Những người về hưân chương trên ngực đỏ

Còn em đây – lặng lẽ một nắm mồ

Bông hoa này dành riêng cho em

Khói hương này dành riêng cho em

Những con đường em đi ngày trước

Qua đau thương đất nước tới bình yên

Những buổi chiều bình yên trên quê ta

Hương lúa đồng niềm vui ngân nga

Này tiếng hát có nhớ người xưa ấy

Đã hồn nhiên dâng hiến cả cuộc đời

Quả xoài non

Chợt nhớ mới hôm nao ta thấy một quả xoài non

Cành cây cao trước bàn làm việc…

Nay mở cửa sổ ra đón nắng trời

Lại thấy

Quả xoài non

Trên cành cao ấy

Một năm đã trôi qua

Đời người

Nhanh đến vậy

Giữa hai quả xoài non ta làm được việc chi?

Ôbama

Ôbama ông chủ lớn nhất thế gian

Một cái nhiu mày cũng có thể thành bão mù trái đất

Này những hạm đội, những sư đoàn, bom nguyên tử

                                                        và cấm vận, tất cả sẵn sàng

Không có kẻ nào dám chọc giận ngài dẫu những ông trùm ngỗ ngược nhất

Vậy mà có một con ruồi,  một con ruồi dám đến

                                                          quấy rầy ngài ngay trong sào huyệt

Và ngang ngược làm sao, cái vo ve cứ bày ra trước mặt thế giới

                                                           giữa lúc ngài làm nghi lễ quốc gia

Một con ruồi, một con ruồi vờn trước mặt ông chủ lớn nhất thế gian

Vậy mà ngài không chút tỏ ra giận dữ, không quát nạt, không ra

                                                   lệnh cách chức ai, không sai phái ai trấn áp

Ngài làm cái việc bình thường như tất cả mọi người

                     nghèo khổ bình thường ở túp lều châu Phi hay xó làng châu Á

Những sứ sở chưa biết đến văn minh hoặc coi văn minh là trò phù phiếm

Rất chăm chú ngài rình và đập

(Một cú đập rất phản vệ sinh)

Ngài đã sát sinh với tâm thế của một ông Phật

Và vì vậy đó là sự sát sinh mang đầy tính Phật

Và vì vậy Ôbama thành một ông Phật thật hơn những

                                                 ông Phật không bao giờ sát sinh

Ngài đi lĩnh giải thưởng hòa bình và nói:

“Có những cuộc chiến tranh cần thiết”

Và điều này chỉ lũ ruồi mới không nhận biết.

Từng giọt rơi

Từng giọt

Rơi

Từng giọt

Đã bao giờ anh nghĩ đến điều này chăng

Sau giấc ngủ nhẹ lâng mở mắt

Không gian lặng phắc

Trắng và mơ

Hun hút sương mù

Chiếc lọ thủy tinh treo ngược

Sợi dây lòng thòng

Từng giọt

Từng giọt

Rơi

 

Anh chập chơn giữa hai miền hư thực

Một không gian không biết ở nơi đâu

Hoa cỏ vô ưu, dịu dàng ánh sáng

Hồn tràn đầy êm ái bâng khuâng

Trí nhớ anh hiện về  từng giọt

Cả cuộc đời đằng đẵng những tháng năm

Những chen lấn, đam mê, vinh quang, tủi nhục

Anh đi qua xa lạ hững hờ

Trái tim bỗng nhói đau bừng ngộ

Thói đời là vô nghĩa, rỗng không

Anh nhẩm đếm từng giọt rơi, từng giọt

Chống gậy ra đường làm đứa trẻ lang thang

5 phản hồi to “Văn Thơ Đặng Ái”

  1. Thứ Ba, 17-09-2013 – Thư của Trần Khuê gửi cựu đại sứ Nguyễn Trung năm 2006 | Dahanhkhach's Blog Says:

    […] thơ kỷ niệm thu SAPA của VŨ XUÂN QUẢN (Trần Mỹ Giống). – Văn Thơ Đặng Ái (Bà Đầm Xòe). – THAM – SÂN – SI – THÂN NGHIỆP – DUYÊN: Chùm thơ NGUYỄN DANH […]

  2. Trần Mạnh Hảo Says:

    Chào hai nhà văn xứ Thanh : Đặng Ái và Phạm Thành
    Truyện ” CẬU HÒE TÔI” in trên đây Đặng Ái kể : Thằng bạn làm thơ chở tác giả đi tìm cậu ruột bằng chiếc xe đạp lọc cọc chính là mình – Trần Mạnh Hảo.
    Văn Đặng Ái chân thật làm người đọc xúc động. TMH chúc mừng bạn đã in gần như toàn tập văn thơ do NXB Thanh Hóa ấn hành.Quê Thanh ân tình thật.
    Chúc Đặng Ái và gia đình vui khỏe.
    Bạn của Đ.A.
    T.M.H.

  3. Nguyen Hieu Says:

    Toi biet Đang Ai dã lau.Co de den ơn 30 nam tu ngay anh in tac pham o NXBGthong.Sau nay nhung khi gap go khi vui khi buon nhung noi len o anh la su hom hinh, tham tram va chan thanh.Van anh cung giong nguoi anh .Truoc DHNV vua roi.Hom tru bi,Ai bao toi co nguoi cau noi tu thoi trong chien tranh à chua gap.Ai dua toi den hoa ra nà tho dàn anh Chim Trang. The day. Ai gio bao khong viet nua. Toi khong tin.Vi nà van nhu nguon nuoc, khi ao at khi tung giot tung giot. .Roi cuoi cung van ti ti giua dong doi nay.Ai toi do cung vay.

  4. Nguyen Hieu Says:

    Xin loi Thang Du.Hieu toi dang o Vung tau, dung lap top.Khong hieu sao viet chu danh dau khong duoc . ki thuat vi tinh Hieu toi thuoc loai hang bet.Thoi danh 13 hom nua xin nghe loi Thang Du.mong 2 chua Dai xa

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: