THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN

Đỗ Hoàng

Nhf thơ Đỗ Hoàng

Nhf thơ Đỗ Hoàng

Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ những người làm thơ cổ động cho miền Bắc Việt Nam trong cuộc chiến hai miền Nam Bắc Việt Nam thập kỷ 50, 60, 70 thế kỷ trước có sự trợ giúp của nước ngoài ở cả hai phía. Nói cho đúng đó là cuộc nội chiến nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn của dân tộc Việt Nam bị các thế lực nước lớn giật giây chi phối cả đôi bên. Trong chiến tranh chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm xếp sau các nhà thơ khác như Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy…Khi Nguyễn Khoa Điềm làm quan to thì thơ ông mới to theo, trước đó mấy ai biết ông.
Thơ của thế hệ này là thơ tuyên truyền một chiều, một phía cho cuộc đánh nhau vì quyền lợi phe nhóm.

Lạ lùng cuộc đời nay

Đến văn chương cũng đĩ

Loài người làm khổ thay

Cái chiến tranh vô nghĩa!

(Tâm sự người lính 1973 – Đỗ Hoàng)

Chiến tranh dù nhìn ở góc độ nào cũng là nỗi đau muôn kiếp của nhân dân cần lao. Các bậc thánh nhân ngày trước bất dắc dĩ mới dùng đến binh khí:

Nãi tri binh dã thị hung khí

Thánh nhân bất đắc nhĩ nhi dụng chi (Lý Bạch)

Binh đao ác độc vô cùng

Thanh nhân cực lắm mới dùng ai ơi!(Túy thì ca – Đỗ Hoàng dịch)

Sư chi sở xứ

Kính các sinh yên

Đại quân chi hậu

Tán hữu hung niên (Lão tử)

Chỗ đóng quân lính

Gai góc mọc đầy

Đằng sau cuộc chiến

Đói khổ lắm thay! (Đỗ Hoàng dịch thơ)

Những người tham gia cuộc chiến hai miền họ cũng không thoát khỏi áp lực của thể chế, vừa do văn hóa, do tầm nhìn, tầm nghĩ hạn chế nên cả một thế hệ nói theo bài bản định sẵn, viết sẵn hay áp nà, nói lấy được. Những câu chưởi địch không đau, không phải thơ,  kiểu chưởi hàng tôm, hàng cá:

Nh thơ Nguyễn Khoa Điềm

Nh thơ Nguyễn Khoa Điềm

Thành phố mọc như nấm độc những xnách-ba Mỹ và đĩ

(Con gà đất cây kèn và khẩu súng – Nguyễn Khoa Điềm)

Hay:

Chỉ cần sự bảo chứng của đô la và súng máy

Cùng cái đầu tối tăm của Giôn xơn, Ních Xơn đặt vào trên đấy!

(Giặc Mỹ – Nguyễn Khoa Điềm)

Thơ họ là dàn đồng ca không lồ muôn người như một, hô khẩu hiệu suông, cũ kỹ, mòn vẹt , véo von, rập khuôn, sáo rỗng, không có tư tưởng, vô cảm trước nỗi đau của nhân quần trong cuộc chiến đầy chết chóc, xương núi, máu sông! Hình thành nên trùng trùng điệp các nhà cổ động viên, nhà ca học, cười học, hót học, hát học, tấu hài học vô tình hoặc cố tình …

Thơ Nguyễn Khoa Điềm là loại dịch nghị quyết tuyên huấn cấp xóm khô khan, không một chút truyền cảm.  Nhiều kiểu định nghĩa các phạm trù đất nước, quê hương không đầy đủ, không chính xác, có phần phản cảm:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm(!) (Đất nước – Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)

Đất là nơi anh đá bóng cũng  phải kể  ra chứ… Nước là nơi em khỏa thân soi gương phải kể ra chứ…

Trong văn chương cũng như trong toán học có những cái không định nghĩa mà chỉ mô tả. Điểm. mặt phẳng, trong toán học; tổ quốc, đất nước, quê hương trong văn học…là những mệnh đề người ta chỉ mô tả mà thôi. Nguyễn Khoa Điềm định nghĩa đất nước thì bao giờ cho đủ.

Khi đường công danh Nguyễn Khoa Điềm càng cao, sự khô khan xơ cứng trong thơ lại tỷ lệ thuận với chức quyền, còn chất lượng thơ thì tỷ lệ nghịch với chức quyền. Đúng là được mùa cau thì đau mùa lúa; được mùa lúa thì úa mùa cau.

Cammus từng nói: “Tôi không vì thơ ca mà hy sinh chính trị, nhưng tôi hy sinh những gì làm hại cho thơ ca”. Đấy là chính trị của một châu lục có truyền thống dân chủ tiến bộ, còn chính trị của cộng sản phương Đông, chính trị Tàu Ô thì thôi rồi lượm ơi! Phải bỏ thơ ca mà đi làm kỹ thuật thôi!

Nguyễn Khoa Điềm muốn bắt cá hai tay, vừa làm quan thật to, vừa là nhà đại thi hào. Con rô cũng tiếc, con diếc cũng tham. Nhưng cuộc đời không cho ai vừa giàu như Bin gết, vừa tài thơ như Đỗ Phủ, vừa nhà chính trị quân sự lỗi  lạc như Thành Cát Tư Hãn, đep trai như Platini (cầu thủ đá bóng) …Thời coi Ban Tư tưởng Văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Khoa Điềm để lại nhiều tiếng không hay cho lắm. Ông ta trù úm Hoàng Minh Chính, bắt nhà văn Dương Thu Hương, bôi nhọ Trần Độ, loại bỏ nhiều nhà bất đồng chính kiến, đàn áp những người đòi tự do dân chủ, cấm mạng , cấm internet, đốt thành tro bụi nhưng tập sách như Học phí trả bằng máu của Nguyễn Khắc Phục, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Chúa trời ngù gật của Nguyễn Dậu, Tâm sự người lính của Đỗ Hoàng, ngăn cản nhiều nhà văn tài năng vào Hội Nhà văn Việt Nam…Ký duyệt nhiều dự án tiêu hàng triệu đô là tiền ngân sách, thuế dân đống để phe nhóm hưởng lại quả nhưng hiệu quả không là bao như: phim Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công, (phim bỏ kho) 1 triệu đô, phim Dòng sông phẳng lặng (phim bỏ kho), làng văn hóa Đồng Mô (làng bỏ hoang), Bác Hồ với văn nghệ sỹ…

 Đường hoạn lộ của Nguyễn Khoa Điềm khá hanh thông. Nguyễn Khoa Điềm quan quá to. Ông trùm tư tưởng văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam. Rồi đứt gánh giữa chừng. Ông quan to Nguyễn Khoa Điềm phải về vườn lúc tuổi chưa đến 60, còn một hai nhiệm kỳ trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam nữa, nhưng lại bị ông cậu ruột của vợ là Nguyễn Đức Đạo viết đơn tố Nguyễn Khoa Điềm không phải là đảng viên và có thời gian bị tù ở lao Thừa phủ – Huế khai báo với địch.

Chuyện này tôi biết ở Bảo Đảng Bình Trị Thiên năm 80 – 87. Hồi ấy có chủ  trương ngầm là ai bị tù ngụy thì phải hy sinh cho Đảng, không được tham gia chính quyền vì không biết ai khai, ai trung thành.

Khi ra Hà Nội học, tôi nghe các anh trong Ban kiểm tra Hội Nhà văn Việt Nam bảo là có đơn tố cáo nói là Nguyễn Khoa Điềm không đảng viên. Tôi nói, tôi có biết việc này hồi ở Huế, nhưng tôi không tin. Vì tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam chặt lắm. Võ Đại Tôn gián điệp về nước đòi lật đổ chính quyền, mới qua biên giới Thái – Lào, mà Hà Nội đã chưởi cha ông Võ Đại Tôn bóc lột nhân lao động Bắc bộ, biết cả chuyện cha ông Võ Đại Tôn hiếp dâm nông dân đẻ ra hàng loạt địa chủ cường hào ác bá khác.

Nguyễn Khoa Điềm không dấu sự len lỏi để làm quan và làm quan to của mình:

Anh mê mải trên đường hoạn lộ

Ngảnh về quê hư ảnh một vầng trăng (Cõi lặng).

Thời làm quan to của Nguyễn Khoa Điềm là thời uy tín Cách mạng Việt Nam ở vào “ giai đoạn thoái trào”. Đảng Cộng sản Việt Nam xóa bỏ tất cả các đảng phái trở thành đảng độc tài chuyên quyền, đảng trị mất uy tín trầm trọng trong lòng dân tộc. Thời oanh liệt của Đảng Lao động Việt Nam không còn nữa. Thời dân và Đảng trên dưới một lòng, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào đi vào miền cổ tích. Nạn tham nhũng, mua quan bán tước lan tràn vô phương cứu chữa, quan lại làm giàu trên nước mắt mồ hôi người lao động.

Nó không khác gì bài ca tố cáo địa chủ, phong kiến đàn áp dân nghèo thời tiền Cách mạng:

Chưa hết mùa, trong nhà ta đã hết lúa

Đói xác xơ thương đàn con vất vả

Môn khoai sắn ngày qua ngày lọt dạ

Bởi địa tô chúng bóc lột công sức ta.

Chúng cấu kết cùng nhau cường hào gian ác

Đại chủ ngoan cố đè nén lên đầu bao người

Làm giàu trên nước mồ hôi người nông dân

Cướp trâu, cướp ruộng, cướp nhà người nông dân

Cướp con, cướp vợ, cướp nồi người nông  dân

Bần cố nghèo khổ muôn đời…

Trước đó nhiều kẻ sỹ, thi sỹ như: Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Phan Khôi, Trương
Tửu, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán …đã rút lui để giữ khí tiết. Bang hữu đạo tắc hiện, bang vô đạo tắc ấn. Bang hữu đạo bần ngã tiện ư sỷ giả, bang vô đạo phú ngã tiện ư sỷ giả (Nho giáo – Khổng tử) Nghĩa là: Nước có đạo thì nên ra làm việc giúp đời; nước vô đạo thì nên lui về giữ danh tiết. Nước có đạo mà ta nghèo là ta xấu; nước vô đạo mà ta giàu là ta xấu. Bỡi vì nước có đạo dung hiền tài, ta không tài nên mới không được dung nên phải nghèo. Nước vô đạo dùng kẻ xấu xa, ta xấu xa nên mới được dùng thì giàu là quá xấu.

Người quân tử phải hiểu ra điều đó. Người không hiểu ra thì không phải là quân tử. Kẻ không quân tử mới bè phải, đảng phái.

Quân tử bất đảng phải (Luận ngữ) – Quân tử không bè đảng, không bè phái. Quân tử, đại trượng

phu, thi nhân không a dua, không hùa với đám đông:

Thị dĩ đại trượng phu

Xử kỳ hậu bất cự kỳ bạc

Xử kỳ thực bất cự kỳ hoa

Cố khứ bỉ thư thử (Lão tử)

Phàm bậc trưởng lão

Xa chốn nhố nhăng

Bỏ hoa lấy quả

Trời đất cân bằng! (Đỗ Hoàng dịch)

Chuyện chính trị nói như trong Nam là không bàn, nay chỉ nói chuyện thơ của Nguyễn Khoa Điềm khi mất chức về vườn.

Người Việt hay nhân loại nói chung đều tha thứ lỗi lầm của con người trước đây. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn viết được, còn trăn trở cùng nhân dân thì là điều đáng quý. Chuyện đi với bụt mặc áo cà sa đi với ma thì mặc áo giấy là chuyện người tầm thường của muôn đời rồi. Những tài năng xuất chúng, thiên tài mới không mặc áo, ở trần dù đi với ai.

Thánh Phê rô một tông đồ thân cận của Chúa Giê su. Trước đó là một tội đồ quyết tâm hành hung giết Chúa. Sau khi được cải hóa, thánh Phê rô có nhiều thành tích trong làm việc nghĩa, việc thiện được Chúa tin yêu. Có lần Thánh Phê rô hói Chúa: – Người bị phạm lỗi 7 lần tha thứ có được không? Chúa trả lời: – Kẻ phạm tội, ta 77 lần tha thứ.

Thơ tuyên truyền của Nguyễn Khoa Điềm trước đây được giới phê bình chính thống tung hô rầm rộ; thơ vô lối của Nguyễn Khoa Điềm khi về vườn cũng được một số người cỗ vũ.

Để có cái nhìn đúng về những bài viết của Nguyễn Khoa Điềm mà gọi là thơ gần đây, tôi có vài thiển ý nhỏ.

Tất cả những bài viết của Nguyễn Khoa Điềm trên các trang mạng xã hội, báo in chính thống đều thể hiện một tâm trạng bực tức, hằn học, tiếc nuối thời vàng son. Không có một chút gì gọi là thơ ca. Nó là một thứ Vô lối đang thịnh hành mà Nguyễn Khoa Điềm cố từ chối không nhận mình là làm Vô lối:

Rằng tôi không bợ đỡ ngôn từ, điếu đóm hậu hiện đại

Bưng mâm cho các cô nàng gót sen ba tấc chữ (Comment – Tạp chí Thơ số 4 -2013)

Nguyễn Khoa Điềm làm Vô lối nhưng viết không chân thành, giả nên không vào lòng người đọc.

Từ xưa đến nay, trong nước và trên thế giới, nhiều nhà thơ làm quan to, thậm chí là vua giữ nhiều trọng trách của đất nhưng thơ của họ đi vào lòng dân, được nhân dân truyền tụng:

Oa oa …oa oa..oa oa!

Cha  trốn đi lính nước nhà

Nên khổ thân em vừa nửa tuổi

Phải theo mẹ đến ở nhà pha!

(Hồ Chí Minh)

Chu Thần nay ở nơi đâu

Để cho Miên Thẩm lên lầu không an

Tháng ngày tựa án lan can

Mãi trông mây cuốn trời Nam dặm nghìn

Dấu xưa nay biết đâu tìm

Thương ai bảy nổi ba chìm nước non

Trăng kia khi khuyết khi tròn

Tinh thần phản kháng vẫn còn sáng soi. (Sóng Hồng- Trường Chinh)

Nguyễn Khoa Điềm viết cho bạn thân là người từng đóng gạch với mình, người tri âm tri kỷ nhưng vẫn lấy cái giọng kẻ cả, khệnh khạng quan trên  ban phát thương xuống, không một chút rung động:

Bạn chừ đóng gạch nơi nao

Văn chương lấm láp vêu vao mặt người

Bất ngờ bạn đến thăm tôi

Gửi cho nhiều sách, Ối giời là thơ!

….

Mong sao bạn bớt bồi hồi

Hãy làm thơ nữa để rồi gặp nhau. (Bạn thơ – Nguyễn Khoa Điềm)

Sự khệnh khạng, cao ngạo bề trên, hổn xược với tiền nhân thể hiện nhan nhản trong thơ và trong

Vô lối của ông:

Cái chết của viên tham tri hay thơ âm thầm trong chính sử

Mất hút một con thuyền chuồi qua cửa Thanh Long (Nguyễn Du)

Thơ ca là bộc lộ sự thành thật, sự thành thật được trọn vẹn thì thơ hay (Bê se)

 Ngày trước,  thi hào Bạch Cư Dị là một trong tam kiệt của Đường thi (Lý Bạch, Đỗ Phủ, BạchCư Dị). Ông làm quan đến Thượng thư nhưng thơ rất chân thành. Ông không đạt chiều cao của Lý Bạch, chiều sâu của Đỗ Phủ nhưng ông đạt được chiều rộng của thơ, chỉ vì khi nói tới nỗi khổ con người ông là người ngoài cuộc. Nhưng không vì thế mà không xúc động, không lưu truyền đến đời sau

Kim ngã hà công đức?

Tằng bất sự nôn tang

Lại lôc tam bách thạch

Tuế án dữ dư lương

Niệm thử tự tứ quý

Tận nhật bất năng vương (Quan nghệ mạch)

Ta có tài đức gì?

Không hề đi cấy cày

Lương ba trăm thạch thóc

Hết năm bồ còn đầy

Nghĩ vô cùng hổ thẹn

Mặt đỏ hết mấy ngày! (Xem gặt lúa)

Thơ vô lối của Nguyễn Khoa Điềm luôn luôn giả, luôn luôn sượng không thành tâm chút nào:
Nhưng chiều nay con bò gặm cỏ

Bên dòng sông như chưa biết chiều tan

Tôi với nó lặng im bè bạn

Mắt nó nhìn dìu dịu nước Hương Giang (Chiều Hương Giang)

Bản thân anh và loài người anh xơi tái hàng tỷ con bò mà vẫn coi nó là bạn thân thì là một việc

xưa nay hiếm(!)

Một việc xưa nay chưa từng có.

Anh xơi tái muôn loài gặm cỏ

Mà chiều nay anh nổi tuyên ngôn

Anh với chúng bạn bè gắn bó! (Thơ 4 câu – Đỗ Hoàng)

Nhìn chung tất tần tật Nguyễn Khoa Điềm viết cái gì đều không thật, như là của giả.  Trong chính trị người ta thường dùng thủ đoạn để lừa nhau, để tranh thủ phiếu. Chỉ một cái táng tận lương tâm, kẻ hãnh tiến đoạt được một giang sơn. Song trong thơ ca dùng lừa đảo hoặc nói điều giả đối thì anh mất sạch. Giả dối là điều tối kỵ với thơ ca.

Nguyễn Khoa Điềm than nghèo, nhưng người đọc nghe nó sến sến thế nào, bởi Nguyễn Khoa Điềm có nghèo đâu. Nhà lầu bốn năm tầng ở khu quan to Đội Cấn – Hà nội một thời có lính gác, nhà vường ở Huế mấy con mèo, con chó chạy một ngày chưa chắc đã hết vườn. Rồi còn biết bao của chìm của nổi khác nữa. Lương hưu của Nguyễn Khoa Điềm cao gấp mấy chục lần nhưng cán bộ quèn đang công tác. Làm sao mà nghèo được. giả nghèo thì được làm thơ giả nghèo thì là đồ giả.   Một ông quan to cỡ tột đỉnh như Nguyễn Khoa Điềm, nhiều kẻ có trang trại trên núi non chuyển đổi đất mường thành đất thủ đô thì làm sao họ cơ ngã như nông dân được. Họ làm sao mà nghèo đói. Một ông bí thư chi bộ xóm trong thể chế đảng trị cộng sản hơn nhiều lần quan phụ mẫu ngày xưa. Nên cái việc than nghèo của ông quan nhất phẩm Nguyễn Khoa Điểm rất giả dối:

Đêm đêm cái nghèo vuốt ve trán người chồng

Khẻ nâng bàn tay người vợ

Đặt cái hôn lên đôi chân trần đứa trẻ

Và thầm ngủ ngon… ngủ ngon… (Đêm đêm – tạp chí Thơ số 4 -2013)

Cái nghèo đi đêm của Nguyễn Khoa Điềm không đàng hoàng chút nào. Cái nghèo này là cái nghèo khai bậy để hưởng hộ nghèo mà Nhà nước triển khai mấy năm qua.

Hơn nghìn nắm nay, các thi hào kim cổ đều nói tới cái nghèo. Cái nghèo của họ có thật nhưng không bị lụy, không khai gian nghèo. Họ nói lên được  cái nghèo của họ được mọi người đồng cảm thấu hiểu và chia sẻ. Nghèo họ cũng là nghèo mình. Nghìn năm rồi đọc cái nghèo của Đỗ Phủ ta còn xúc động:

An đắc hạ thiên vạn gian

Đại tý thiên hạ hàn sỹ câu hoan nhan

Ô hô! Hà thì nhãn tiền đột ngột hiện thử ốc

Ngô lư độc phá thu đồng tử diệc tức.

(Ước được vạn gian phòng rộng rãi

Kẻ sỹ nghèo có mái nhà che

Bao giờ? Hãy hiện ngay đi.

Thân ta chết cóng có gì ngại đâu.) (Đỗ Hoàng dịch)

(Mao ốc vị thu phóng sử phá ca –

Bài hát gió thu thổi tốc nhà)

Xúc động với cái nghèo của Nguyễn Trãi:

Thập tải đọc thư bần đáo cốt

Bàn vô mục túc tọa vô chiên

(Mười năm đọc sách nghèo đến tủy

Mân không rau cỏ, chỗ đâu ngồi) (Đỗ Hoàng dịch thơ)

Cái nghèo của Nguyễn Du thậm đau đớn. Cha làm quan mà con đói rét. Có khác gi Đỗ Phủ làm

Tả thập di – Quan can gián vua mà con chết đói:

Thập tử cơ hàn bắc môn ngoại (Mười miệng đói xanh ngoài cửa Bắc)

Và Nguyễn Khuyến:

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa

Chợ búa trầu cau chẳng dám mua.

Thơ ca cổ kim có nói đến cái chết. Chết là cái quan định luận. Lúc đó mới nói đúng cái được cái mất của đời người. Các thi hào xưa nay nói tới việc này một cách vô tư, thanh thoát, nhẹ nhõm, bởi vì cuộc đời của họ quá sáng trong, không bụi mờ:

Sống không để tiếng đời ta thán

Chết lại về quê quán hương thôn

Mới hay trăm sự vuông tròn

Sống lâu đã trải, chết chôn chờ gì (Di chúc thư – Nguyễn Khuyến)

Hay:

Ba hồi trống giục mồ cha kiếp

Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời (Cao Bá Quát)

Nguyễn Khoa Điềm nói đến cái chết như một lời thách thức, cao ngạo, rất cải lương, khô khan

đại hạn:

Khi cái chết chắn cửa

Đời tôi Cám ơn! (Comment)

Phần viết của Nguyễn Khoa Điềm khi mất chức quan to về vườn không có đổi mới, sáng tạo gì. Nó là một  thứ Vô lối xuất hiện từ mấy thập kỷ vừa qua. Nhiều câu dở hơn câu nói bộ:

Dậy thức hút thuốc vặt ( Đất nước những tháng năm thật buồn)

Tôi bày tỏ chính tôi,câu chữ của tôi, nước mắt của tôi (Comment)

Ngoài đường trẻ con đi học, trong nhà người già ngủ (Mùa bình thường)

Dùng nhiều âm Hán Việt , chữ nước ngoài chưa được Việt hóa: trật cước, comment…

Người đọc tìm đọc Nguyễn Khoa Điềm làm thơ khi mất chức là vì người đọc tò mò, hiếu kỳ, không biết ông quan to hưởng không biết bao nhiêu bổng lộc của “triều đình”, bao nhiêu phần trăm dự án ma, dự án không ích nước lợi dân, bao nhiều biệt thự, đất đai mà vẫn làm thơ, thơ hồi hưu có khác gì không?

Dù những điều Nguyễn Khoa Điềm viết ra chưa phải thơ nhưng bạn đọc cũng có phần đồng cảm những nỗi trăn của ông. Hóa ra khi ngồi dưới đất ông mới thấy rằng dân đen người ta đau khổ biết nhường nào. Nỗi khổ của họ có phần do ông gây nên.

Bây giờ có nhiều quan điểm thơ: thơ siêu việt, thơ hậu hiện đại, thơ hậu hậu hiện đại. Tìm tòi là đáng quý, nhưng tìm tòi phải vào trái tim người đọc. Còn viết những điều mình cũng không hiểu, không biết thì làm sao thành công.

Thơ hậu hiện đại của Ion Milos (nhà thơ Thuỵ Điển) vào được đọc giả vì có tứ, có nghĩa, tầm tư tưởng, triết học cao:

Tôi mua một con chó

Để có bạn bầu

Trò chuyện sớm hôm..

Và rồi một hôm

Chó thổ lộ với tôi một điều rất lạ.

Rằng con người đã từ lâu

Không còn nói ngôn ngữ của con người…

(Con người và con chó – Phạm Viết Đào dịch)

Thơ và Vô lối Nguyễn Khoa Điềm không như vậy.

Đáng ra nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm phải chân thành hơn, sám hối hơn:

“Ta xin chịu tội khi ta u mê cái triết học du nhập lai căng lỗi thời, không nói cho đám đầu trâu

mặt ngưa đồng liêu với ta tỉnh ra,

khi ta trù úm, sát phạt với các huynh Hoàng Minh Chính, Trần Độ,

Xin thắp nén nhang cho các tác phẩm ta ra lệnh đốt thành tro

Lạy văn sỹ tài danh Dương Thu Dương bị đi tù.

Vái linh hồn các nhà dân chủ , các trang mạng xã hội chính ta đàn áp

Các chị bán cá Vỹ Dạ ơi!

Tôi xấu hổ giọt nước mắt tôi trộm rơi

Khi nhìn các chị chao chát nói cười, tiếng thở than hả hê, tiếng rên rỉ của những tờ bạc vụn.

Trong khi tôi tiêu hoang bạc kho, vàng đụn

Lấy thuế từ tấm lưng còng của các chị đây!

Từ nay đi cùng các chị

Tôi tự căm tôi đã đào tạo nguồn những tay làm nghề tôi, nối ngôi tôi là nghề nói láo!

Nghề mà phải bớt gạo

Trong nồi của các chị để cho chúng nó ba hoa!

Ôi biết bao cuồng phong văn chương bão táp do tôi gây ra

Tạ lỗi quê nhà

Tạ lỗi những người mò hến không có hến ngày ngày đêm đêm bên Cồn Hến để kiếm cháo rau

Điềm tôi đây

Xin đập đầu chịu tội!

Tôi tin nếu nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết như thế chắc bạn đọc sẽ quý trọng ông nhiều hơn nữa!

Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2013

Đ – H

30 phản hồi to “THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN”

  1. Tôi Không Tin Says:

    NHÂN CHUYỆN ĐỀ THI TỐT NGHIỆP MÔN VĂN VÀ CHUYỆN ÔNG NGUYỄN KHOA ĐIỀM DẠO NÀY HAY LÀM THƠ

    1.
    Ông Nguyễn Khoa Điềm dạo gần đây hình như rảnh rỗi và thảnh thơi quá nên lại nhờ hai trang mạng bị xem là “lề trái” nổi tiếng hiện nay phát tán thơ đọc lên nghe có vẻ như đang rất thành tâm… sám hối (nhưng không biết có thiệt không)! Đọc mấy bài gần đây của ông như: “Đất nước những tháng năm thật buồn”, “Sự tầm thường”, “Thời sự cuối ngày”… dù không ít kẻ khen nức nở nhưng riêng tôi bỗng chợt nhớ 2 câu của nhà thơ Xuân Sách vẽ chân dung Tố Hữu “nhà càng lộng gió thơ càng nhạt/máu ở chiến trường hoa ở đây”.

    2.
    Đề thi tốt nghiệp phổ thông trung học hôm trước lại một lần nữa nhai lại 1 đoạn trích trong bài “Đất nước” của những tháng năm trên “thiên đường” của ông (chứ không phải “Đất nước của những tháng năm thật buồn” mới sám hối gần đây). Chợt nhớ ngày xưa, ông Thầy dạy văn của tôi khi phân tích bài này có nhận định 2 câu thơ “Đất là nơi anh đến trường/ Nước là nơi em tắm” trog bài thơ này như sau (xin chia sẻ cùng bạn đọc):
    Theo Thầy tôi thì câu thơ “nước là nơi em tắm” là 1 trong những câu thơ thô thiển nhất trong thơ ca VN. Ai đời ở câu đầu “Đất là nơi anh đến trường” – câu thơ rất giàu chất thơ, dẫn người đọc đến một liên tưởng thẩm mỹ về những điều tốt đẹp. “Đến trường” là để trau dồi, rèn luyện, để mở mang tầm hiểu biết và hoàn thiện mình… rất phù hợp với tầm vóc của người con trai, người đàn ông (vì con trai thì phải lo rèn luyện cái tài). Thế nhưng mạch liên tưởng ấy lại bị cắt đứt bởi câu thơ “nước là nơi em tắm” tiếp theo đó. Câu này về nhịp và cấu trúc cũng không hô ứng với câu trên. Hơn nữa, động từ “tắm” gợi lên sự liên tưởng về sự gội rửa, thanh lọc những cái dơ bẩn, cặn bả… của con người. Vì thế, nó không ăn nhập gì với sự “đến trường” của “anh” ở câu trên nên về mặt thẩm mỹ mà nói câu này không phải là thơ vì nó rất phản cảm và không đẹp (tự dưng trong khi anh đang cắp sách “đến trường” thì em lại đi… “tắm”?). Lẽ ra ông NKĐ, nếu óc thẩm mỹ tốt hơn sẽ viết (và có lẽ ông nên sửa lại) thế này:
    “Đất là nơi anh đến trường
    Nước là nơi em soi bóng”.
    Hai từ “soi bóng” gợi lên sự liên tưởng về sự tự ý thức của nhân vật “em” – người con gái. Và khi đó “nước” sẽ là “dòng sông tuổi thơ”, là “bến nước”; người con gái “soi bóng” dưới dòng sông không chỉ là hình ảnh nên thơ mà mà quan trọng hơn “soi bóng” còn mang ý nghĩa là tự ngắm dung nhan mình; là tự ý thức về vẻ đẹp, sự duyên dáng của mình. Như thế này không những rất phù hợp với hình ảnh “anh” – “đến trường” ở câu trên về liên tưởng thẩm mỹ mà còn cho thấy cái nhìn mang đậm chất văn hóa “trai tài, gái sắc” của người Việt:
    “Đất” – “anh” – “đến trường” (trai tài)
    “nước” – “em” – “soi bóng” (gái sắc)
    Ngoài ra, nhìn tổng thể nó cũng rất phù hợp với những câu thơ khác trong toàn bài thơ như: “Đất nước là nơi ta hò hẹn”, “là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”….
    Qua đây lại tự hỏi, nếu học sinh nào phân tích và bình luận hai câu thơ trên như thế này thì mấy ông bà phụ trách môn Văn ở BỘ HỌC sẽ cho bao nhiêu điểm hay là lại phán “SAI QUAN ĐIỂM” cho cái trứng vịt về luộc ăn! Hu Hu!
    3
    Cuối cùng, nhân mấy bài thơ của ông Nguyễn Khoa Điềm mới phát tán gần đây, người viết tự dưng thấy “thi hứng” trổi lên rất mạnh mẽ nên có mạo muội họa 2 trong số 3 bài của ông Nguyễn Khoa Điềm (xin phép mạo muội hầu bạn đọc):
    Bài thứ nhất
    Họa bài “Đất nước những tháng năm thật buồn” của ông Nguyễn Khoa Điềm

    “Đất nước những tháng năm thật buồn”
    Hay là “hội chứng” của các quan đã an toàn sau khi hạ cánh?
    Về làm dân mới hay bị dân xa lánh
    Những phút cuối đời lại trốn vào thơ!

    Liệu những câu thơ sinh ra trong lúc thảnh thơi
    Có giải cứu nhân dân thoát ra vùng tăm tối
    Có tẩy rửa cái xác thân vốn từ lâu bị nhiễu nhương vì danh lợi
    Có diệt hết vi rút tham lam và cuồng vọng của một thời?

    Liệu những câu thơ được sinh ra trong nhà lầu, xe hơi
    Có vá được những lỗ thủng của một tâm hồn rách nát?
    Hay những câu thơ dù đã khéo léo ngụy trang nhưng vẫn lòi ra cái đuôi hèn nhát
    Có chăng chỉ góp phần làm tăng thêm nỗi dâu bể, tang thương!

    Có ai ngờ “đất nước những tháng năm thật buồn”
    Lại là câu trả lời cho “Đất nước” của những tháng năm say sưa “mặt đường khát vọng”
    Đất bây giờ là nơi anh đang tựa lưng vào ghế sô -fa dệt vần thơ ảo mộng
    Nước là chai uýt- ky trên bàn em vừa mới ngửa cổ nốc một hơi?

    Cái quay hàm của con cá sấu khi nhai chạm vào tuyến lệ nên nước mắt nó rơi
    Từng giọt, từng giọt theo nhau nhòe vào máu con mồi
    Con ác thú có bao giờ biết khóc
    Nhưng có lẽ vẫn thua xa loài động vật mang danh nhà thơ đội lốt con người?

    Bài thứ 2: Họa bài “Sự tầm thường” của ông Nguyễn Khoa Điềm

    Bây giờ ta sẽ nói về những “sự tầm thường”
    giống như những sự bất lương
    những sự nhiễu nhương
    đang ngày một lan rộng và trầm trọng ở cái xứ sở này….

    Ai gieo vào đầu những đứa trẻ những điều giả dối
    lúc chúng mới bi bô tập nói
    và suốt quãng thời trên ghế nhà trường?
    Để đến lúc này có lắm kẻ bỗng dưng trở thành hiền triết đêm đêm bàn với vợ những “sự tầm thường” lúc “treo mình lên cái đinh mắc màn”?
    Ai?
    Ai?
    Ai?
    Than ôi, thật quái lạ!

    kinh khủng quá!

    Tôi thật sự sợ quá cái lưỡi của con người
    Nhất là cái lưỡi nằm trong vòm miệng của những kẻ làm quan
    (lại là các quan hành nghề tuyên huấn)
    Tôi hình dung hai ba trăm năm nữa
    một ngày kia
    có đoàn khảo cổ
    khai quật một ngôi mộ của tiền nhân thế kỷ 21
    chỉ bằng một dấu hiệu thôi họ sẽ biết
    “lý lịch” của người quá cố năm trong cổ áo quan
    đó là cái lưỡi bị hoá thạch
    cái lưỡi không có cơ hội được tan vào đất!

    Bạn biết không
    những chuyện như thế này trong tương lai là điều rất bình thường
    nhưng hiện tại
    với tôi
    đó là sự bất thường
    tiêu biểu nhất!

  2. tranminh Says:

    Tất nhiên ” mặt đường khát vọng ” không tránh khỏi những hạn ché như ĐH đã dân và một bạn com… nhưng khách quan mà xet trường ca đó còn hơn rất nhiều trường ca khác cùng thời. Trường ca trong giai đoạn vưa qua mới thật tệ hại. Có người không viết nổi một bài thơ ngắn cho gọi là đọc được thế mà viết hẳn một TRƯỜNG CA thế mới kinh dị làm sao, tôi đoc một số TRƯỜNG CA gần đây thấy rõ là nhiều người không có việc làm nên ngồi xếp chữ làm thơ…tệ hại thay vẫn có người a dua…thậm chí còn giải thưởng, thế là một số nhà lý luận chân đất mắt toét nhao nhao tụng niệm…Phải chăng số tiền nhà nước cho Văn nghệ ít ỏi nhưng không biết chi tiêu để phát triển văn chương họ nhân mọi người lặng im họ tưởng thiên hạ GÀ MỜ nên trao phứa để kích động phong trào?Người cầm bút có tư cách không bao giờ bộp chộp để bị nhầm khái niệm./.

  3. Tấn Says:

    Tội nghiệp và đáng thương hại thay cho một đời…thi nô nguyễn khoa điềm!

  4. Thanh Says:

    Tội nghiệp và đáng thương hại thay cho một đời…thi nô ( tôi xin thêm 2 chữ: hạng bét) nguyễn khoa điềm!

  5. ĐoànhĐoành@ Says:

    “…Điềm tôi đây

    Xin đập đầu chịu tội!”.
    Điềm mà viết theo như Đỗ Hoàng phán thì nghe càng giả dối. Bởi bản chất Điềm có trung thực bao giờ.

  6. Đất nước Says:

    Đất là nơi anh mở dự án vàng
    Nước là nơi em lao đầu tự tử
    Hai chàng trai đi ngang
    Nhảy theo không do dự
    Vớt lên
    Không để cô chết nữa
    Hai chàng trai đoạt giải Thạch Sanh
    Mỗi người một nửa
    Nỗi tuyệt vọng của cô
    Cũng còn một nửa
    Vì thêm cho cô nỗi tuyệt vọng bổ sung,
    Sống dở,
    chết không xong.
    Đất nước!
    Là nơi vận mệnh chúng ta, nói chung
    Của cô và cả Thạch Sanh
    Được nắm bởi bọn Lý Thông
    Cả ba ra về. Không một lời để lại
    Trong không gian đầy sợ hãi.

    Hãy hét thật to
    Để ăn mừng cho sông Hương?
    Thôi xin, chớ dại!

    Phía Cột cờ Đại Nội
    Còn nhìn rõ
    Lá cờ bay phơi phới
    Màu đỏ.

    5 giờ chiều.
    Huế, bầu trời hoàng hôn
    Buông như một nóc mùng.

  7. Sáu Dân Says:

    Điềm nay thất sủng viết lăng nhăng
    Một thời bịt miệng có nhớ chăng?

  8. Nguyễn Xuân Quy Says:

    Làm thơ như làm đĩ!

  9. Anhbasam Điểm Tin Chủ Nhật, 09-06-2013 | doithoaionline Says:

    […] THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM: THỜI SỰ CUỐI NGÀY (Nguyễn Trọng Tạo). – Đỗ Hoàng: THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN (Bà Đầm […]

  10. ***TIN NGÀY 9/6/2013 -Chủ Nhật « ttxcc6 Says:

    […] THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM: THỜI SỰ CUỐI NGÀY (Nguyễn Trọng Tạo). – Đỗ Hoàng: THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN (Bà Đầm […]

  11. Còn gì vui hơn đường ra trận mùa xuân Says:

    Trước NKĐ có 2 ông thi sĩ kiêm ủy viên bộ chính trị, đều người Huế.

  12. bang bang Sgn Says:

    Tên sát nhân tết Mậu Thân 68- Huế- sát thủ văn nghệ sĩ ; sau đó trở thành nhà thơ

  13. NHẬT BÁO BA SÀM : TIN CHỦ NHẬT 9-6-2013 | Ngoclinhvugia's Blog Says:

    […] THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM: THỜI SỰ CUỐI NGÀY (Nguyễn Trọng Tạo). – Đỗ Hoàng: THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN (Bà Đầm Xòe). – CÁI ÁO CỦA THẰNG ĂN CƯỚP (Bùi Văn Bồng). “Có ông […]

  14. Đỗ Phú Quốc Says:

    Tôi không phải là người thích thơ Nguyễn Khoa Điềm và càng không thích con người ông khi ơ r cương vị Trưởng Ban VH-TT Trung ương. Tuy nhiên,tôi không thể chấp nhận cái cách phê phán xiên xẹo, bới bèo ra bọ của Đỗ Hoàng. Mà Đỗ Hoàng là ai? Có thực là người tử tế không hay chỉ là kẻ nát rượu, bị rượu làm hỏng hết đầu óc? Hoàng có tác phẩm gì được người đời biết đến?
    Cái thân mình đã chẳng ra gì, bị Phạm Tiến Duật đuổi như chó bây giờ vẫn không chừa thói cắn bậy. Đúng là đồ dòi bọ!

    • Khách vãng lai Says:

      Tôi không thích thơ N.K.Điềm. Tôi không biết Đỗ Hoàng là ai vì không cần thiết.Ông ta chỉ đọc và đưa ra nhận xét. Nhận xét là quyền của người đọc.Cần gì phải có tác phẩm được người đời biết đến Đúng sai còn có dư luận.Hãy phản bác với ngôn từ có giáo dục.Cái kiểu bỏ bóng đá người chính là kiểu tự nhận mình là “dòi bọ” không hơn không kém.

  15. Lượm tin tức | Dahanhkhach's Blog Says:

    […] THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM: THỜI SỰ CUỐI NGÀY (Nguyễn Trọng Tạo). – Đỗ Hoàng: THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN (Bà Đầm […]

  16. Hoa Says:

    Đỗ Phú Quốc nói:
    Tháng Sáu 9, 2013 lúc 3:21 chiều | Trả lời

    Tôi không phải là người thích thơ Nguyễn Khoa Điềm và càng không thích con người ông khi ơ r cương vị Trưởng Ban VH-TT Trung ương. Tuy nhiên,tôi không thể chấp nhận cái cách phê phán xiên xẹo, bới bèo ra bọ của Đỗ Hoàng. Mà Đỗ Hoàng là ai? Có thực là người tử tế không hay chỉ là kẻ nát rượu, bị rượu làm hỏng hết đầu óc? Hoàng có tác phẩm gì được người đời biết đến?
    Cái thân mình đã chẳng ra gì, bị Phạm Tiến Duật đuổi như chó bây giờ vẫn không chừa thói cắn bậy. Đúng là đồ dòi bọ!

    Khách vãng lai nói:
    Tháng Sáu 11, 2013 lúc 7:49 sáng | Trả lời

    Tôi không thích thơ N.K.Điềm. Tôi không biết Đỗ Hoàng là ai vì không cần thiết.Ông ta chỉ đọc và đưa ra nhận xét. Nhận xét là quyền của người đọc.Cần gì phải có tác phẩm được người đời biết đến Đúng sai còn có dư luận.Hãy phản bác với ngôn từ có giáo dục.Cái kiểu bỏ bóng đá người chính là kiểu tự nhận mình là “dòi bọ” không hơn không kém.

    HOA nói:
    Tháng 6, ngày 25
    Bạn khách vãng lai nói đúng, cách phản bác của Đỗ phú Quoc là thiếu văn hóa, lối nói của kẻ thất phu. Tôi thích bài viết của ĐỖ HOÀNG vì anh đã lột tả được cái điều nên biết để độc giả như chúng tôi mới thấy rõ được cái bản chất thật của nguyễn khoa điềm.Thành thật cám ơn anh ĐÕ HOÀNG!

  17. QV Says:

    QUAN HOÀN DÂN

    Thời nay có kẻ làm quan
    Chẳng may thất sủng về vườn mần thơ
    Nửa đêm thức giấc dật dờ
    Lần mò trang mạng mong chờ tin vui
    Lương tâm cắn rứt sụt sùi
    Cảm thương đất nước….nghĩ lui cuộc đời
    Hết thời, nay được thảnh thơi
    Hoàn dân mới thấy chơi vơi lạ lùng
    Dẫu sao quan cũng đã từng
    Đỉnh cao chót vót lẫy lừng thơm tho
    Thời quan làm đến chức to
    Nước và dân khổ_quan lo được gì???
    Bây giờ chẳng hiểu cớ chi
    Quan ngồi vắt óc giữa khuya tìm lời
    Chắp từng câu chữ… lạ đời
    Múa may môi mép nực cười trêu ngươi
    Khác nào giống lủ đười ươi
    Làm trò múa rối cho người đời xem
    Thơ quan… tôi thấy nỗi niềm
    Của người thất chí ưu phiền đấy thôi!
    Vài lời… nhắn nhủ quan tôi
    Lộc nhà, lộc nước, lộc trời quan xơi
    Xin quan yên chí nghỉ ngơi
    Cả đời con cháu chưa xơi hết mà.
    Tháng 6/2013
    ttqv

  18. bình thường đi Says:

    ngám cảnh quá các bác ơi! em mà đem được con vịt vào đây thì chỗ này chắc chắn thành cái chơ, mà các bác chính là những con mẹ hàng tôm, hàng thịt chua ngoa đến “tộ đỉnh kungfu”

  19. Trung Phan Says:

    Biết người,phải nghĩ đến ta
    cũng tham danh vọng…nhưng mà hèn hơn
    cũng phường “giá áo túi cơm”
    cùng làng “kiếm sống” con buôn,chợ trời
    đã làm gì?được cho đời
    mà rêu rao lắm cho người ta khinh…/

  20. Tin Chủ Nhật, 09-06-2013 « BA SÀM Says:

    […] NGUYỄN KHOA ĐIỀM: THỜI SỰ CUỐI NGÀY (Nguyễn Trọng Tạo). – Đỗ Hoàng: THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN (Bà Đầm […]

  21. phong kham phu khoa Says:

    This site was… how do you say it? Relevant!!
    Finally I’ve found something that helped me. Cheers!

  22. xe audi Says:

    xe audi

    THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN | Bà Đầm Xòe

  23. anh xe audi a8 Says:

    anh xe audi a8

    THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN | Bà Đầm Xòe

  24. xe bmw dat nhat the gioi Says:

    xe bmw dat nhat the gioi

    THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN | Bà Đầm Xòe

  25. xe oto the thao cu Says:

    xe oto the thao cu

    THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN | Bà Đầm Xòe

  26. Hoàng Hà Says:

    Hay quá,xin cảm ơn tác giả Đỗ Hoàng khả kính !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: