Phạm Thành: Hậu Chí Phèo và Dư luận, phần V: Gia phả dòng họ làng Vũ Đại (Tiếp theo phần IV)

pheo 1Võ Đức Nội là cha của Võ Thị Cúc, đưa bàn tay to nắm đuôi theo cày, lắc nó sang phải, sang trái, như một tay thợ cày đang lách cày cày ruộng, trong khi mắt ông nheo nheo nhìn lướt theo bắp cày. Chẳng có gì sót cả. Đoạn, ông kéo hai ống quần lá tọa lên đùi, nhẹ nhàng ngồi xổm xuống. Mắt ông lại nheo nhìn vào cái lỗ tròn trên bắp cày. Nó cũng đúng cách: phần lõm phía trên hơi bóp lại. Theo thói quen, ông đưa hẳn ngón tay sờ vào cái lỗ tròn ấy, như kiểm chứng thêm cho đôi mắt của ông, giờ đã kém tinh tường. Ngón tay của ông cũng không phát hiện được điểm sai sót gì. Lạ thật!

Ông nghiêng người hạ cái cày nằm nghiêng xuống sân, tiếp tục kiểm tra độ chính xác trong từng bộ phận của chiếc cày chìa vôi. Ông xòe tay đo độ dài bắp cày, đoạn từ chốt cày về phía tay cày. Nó cũng khớp quy định. Lạ nhỉ?Ông lại tiếp tục xòe tay đo liền mấy gang đoạn từ chốt cá cày đến vai cày. Cũng đúng quy định. Ông đã có phần bực tức ở trong bụng. Để kỹ lưỡng hơn, ông tiếp tục hì hục kiểm tra thêm môn cày, và còn xòe tay ra đo cái góc nhọn tạo thành giữa theo cày với bắp cày. Đúng hết. Ấy mà tại sao thằng cháu đích tôn nhà ông là thợ cày giỏi của làng, lại bảo cày không được. Hắn bảo, lúc thì ăn nông, lúc thì ăn sâu, lúc thì không bắt vào luống, cứ trườn trượt trên rãnh cày…

 
 Năm nay, Võ Đức Nội đã ngoài bảy mươi tuổi. Có dễ đời ông đã làm tới mấy trăm cái cày. Cái thì nhà ông dùng, cái cho họ hàng, hàng xóm dùng, chưa có một cái nào “trái khoáy” như cái này. Nó có gì khác với cái ông đã làm đâu? Bắp cày này cũng là một đoạn gốc của một cây tre già. Theo cày này vẫn là cây gỗ lim mà ông mua từ rừng về. Dự định cái cày này là cái cuối cùng của đời ông, nên ông đã hết sức cẩn thận tập trung sức lực và trí tuệ để có một món “quà” hoàn hảo “tặng” cho thằng cháu đích tôn làm vốn. Không xong cái cày này, ông có nhắm mắt cũng khó bề thanh thản. Bởi vậy, ông không thể không tìm cho ra nhẽ.
pheo 2
Ông ngước cặp mắt già nhìn lên thằng cháu đích tôn. Lúc này, nó chỉ mặc độc một cái quần lót và đang nằm nghiêng trên bờ hè. Hắn phải bỏ lỡ một buổi cày là tại cái cày này đây. Ông muốn hỏi thêm cháu, nhưng thấy nó đang “phì phì”, ông lại thôi. Thấy nó đang nằm ngủ hiền quá mà ông thương. “Thôi chả cày nay thì cày mai, ruộng vẫn còn đó”. Ông nở một nụ cười yếu ớt, bỏ cày đứng lên. “Ngày xưa, mình cũng như nó mà vẫn sống đến ngoài bảy mươi chưa chết”.
Bỗng ông nghe đồng hồ bàn đổ chuông, báo hiệu mười hai giờ trưa. Ông đưa tay sờ cằm. Mấy sợi râu thưa ướt đẫm mồ hôi. Đang là tháng hè oi nồng. Một cơn gió tây thổi qua. Ông cảm thấy cái nóng se se trên mặt. Ông bước hấp tấp vào nhà. Ông phải lên cót cho đồng hồ cái đã. Kẻo trưa mai có thể lại sai giờ.
Cái đồng hồ. Có người trong xóm chê cái đồng hồ có con gà mổ của ông và bảo ông thay đi. Nhưng việc gì phải thay khi con gà vẫn còn mổ. Nó lại là cái đồng hồ tốt nhất làng, đã gắn bó trong nhà ông mấy chục năm nay. Cái đợt mua năm sáu mấy, có cái đồng hồ nào còn chạy được đến bây giờ đâu? Đúng là của bền tại người thật. Cứ để nguyên nó trong tủ. Chỉ một người lên giây vào đúng mười giờ, thì chẳng mấy khi nó hỏng. Nó có sai thì cũng một vài bữa, rồi có bữa cũng đúng với “tít tít” của Đài Tiếng nói Việt Nam.
Khi ông cầm cái đồng hồ “quạ mổ”- làng tôi ác miệng gọi thế – định lên giây cót, ông lại nghe như có tiếng gà mái gáy từ trong đồng hồ vọng ra. Ông cứ phân vân mãi về chuyện này. Không biết là ông “tai tưởng” hay là gà mái gáy thật? “Hay là hồn con Cúc ẩn vào đây?”. Nhưng hôm nay, sau khi nghe tiếng gà mái gáy, thì cái đồng hồ trên tay ông kêu luôn mấy tiếng “sành sạch” rồi im bặt, không còn nghe tiếng “tích tắc” đều đều nữa, và ông liếc mắt nhìn con gà cần mẫn mổ thời gian cũng đứng im. Theo thói quen ông vặn giây cót. Nó cũng không tích tắc trở lại. Ông dùng tay vỗ, rồi đặt nhẹ xuống mặt tủ như mọi khi, nhưng nó vẫn kiên quyết không chạy. Bất lực, ông để nó vào chỗ cũ, và hy vọng, có thể ngày mai bất ngờ nó lại “tích tắc” như nhiều lần bất ngờ trước.
Mười hai giờ trưa, cũng là giờ mà ông ăn và nghỉ trưa. Ông xuống bếp bê một nồi lên. Chẳng cần mâm bát, ông thò tay vào nồi, đào bới trong đó một lúc, cầm ra một cục tròn như quả ổi lai. Đó là một nắm khoai khô nấu lẫn với đậu. Ở nông thôn, giữa ngày có một nồi khoai ăn bữa phụ như thế, cũng được xếp vào loại gia đình khá giả. Khoai khô nấu với đậu xanh, ăn vừa ngọt vừa bùi. Võ Đức Nội vẫn thường thích ăn món này. Nhưng do tuổi già, chất nhờn trong họng khô dần đi, nên thỉnh thoảng ông lại nghẹn. Ăn mà hay nghẹn thì sống cũng chẳng được bao năm nữa. Nghĩ cũng tiếc đời. Bây giờ mình còn khổ, nhưng ngày mai hẳn sẽ sung sướng hơn. Thằng con ông, từ khi có “khoán mười”, nhận được khoán mấy sào ao thả cá. Hắn tính một năm thu lãi mấy triệu đồng. Lại còn thằng cháu đích tôn cũng ngoài hai mươi, có sức khỏe và chịu lăn lộn với đồng ruộng, thế thì chẳng mấy chốc mà khá lên. Nếu kinh tế mà khá lên, ngoài bảy mươi tuổi như ông, sáng có một bát cháo trứng gà, trưa ăn xôi với thịt thủ, chiều làm một ly rượu để ngủ, thì còn phải mong ước gì nữa. Nghĩ tới ngày mai sung sướng mà ông thấy buồn cho miếng khoai khô nấu lẫn với đậu đang còn tắc trong cổ ông.
Chán mớ đời. Ông quay ý nghĩ về cái cày hỏng nằm ở ngoài sân. Nếu chẳng may vì nghẹn khoai mà nằm xuống tức thì, thì thật vô lối. Mà thiên hạ người ta lại cười cho, rằng “Dao sắc không gọt được chuôi”. Nhưng mà thôi, hãy cứ đánh một giấc cái đã.
Giấc ngủ của người già vốn không bao giờ sâu, và thường hay mộng mị. Trưa nay, lão Võ Đức Nội cũng mộng mị. Từ cái cày hỏng, đến cái đồng hồ tự nhiên gáy lên rồi hỏng, suy nghĩ của ông kéo về gia phả chín đời nhà ông.
Dưới thời Lê Thánh Tông, giặc giã, lụt lội xảy ra liên miên, nhiều vùng nông thôn đói kém. Vua sắc chiếu cho phép dân đinh tự do tìm chỗ làm ăn. Họ Võ Đức nhà ông, quê tận dưới vùng trũng làng Vũ Đại, được chiếu, đã chia người nhằm hướng rừng phía tây đi lên. Sau mấy ngày dắt díu nhau đi, đoàn người đã đến Ba Bông thì lại chia thành ba đoàn. Đoàn của nhà ông đi theo dòng Vũ Đại, ngược lên. Đi thuyền tiếp bốn ngày nữa, đoàn người gặp một cái chợ bên rìa sông – chợ Găng – thì cắm lều ở lại. Sau một thời gian khai hoang, phát rậm và cày cấy vài vụ, thấy làm ăn được, đoàn người lang thang cầu thực nhà ông quyết định ở hẳn đây. Ông Võ Đức Công – tổ của họ ông – đặt cho xóm mới này cái tên vừa gợi nhớ quê cũ, vừa thể hiện một xóm mới: Đại Vũ.
Ông Võ Đức Công lập nghiệp ở đây một thời gian thì được tin họ Võ Đức ở Vũ Đại bị họ Chí cướp đất. Ông Võ Đức Công đã phải quay lại xóm cũ, tổ chức kiện họ Chí. Vụ kiện kéo dài tới mười năm, họ Võ mới lấy lại được đất. Ghi nhớ công lao của ông Võ Đức Công, ở Vũ Đại hiện vẫn còn đền thờ ghi nhớ công đức của ông. Hiện cả họ Võ Đức ở Vũ Đại và họ Võ Đức ở Đại Vũ vẫn thường kể cho nhau nghe những chuyện này, với một lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc. Chuyện này tính tới nay đã được năm trăm năm.
Nếu tính thời gian bằng chiếc đồng hồ “quạ mổ” thì năm trăm năm không biết là bao giờ? Một giờ có sáu mươi phút, không biết là bao nhiêu phút? Một phút có sáu mươi giây, không biết là bao nhiêu giây? Nhưng nếu tính bằng việc thì ông tổ nhà ông đã để lại hai việc: Một là lập xóm mới ở làng Đại Vũ; hai là, lấy lại đất bị nhà họ Chí chiếm.
Ông Võ Đức Công chết đi để lại một người con trai tên là Võ Đức Minh. Ông này có sức khỏe hơn người. Chỉ có đôi tay, cái cuốc, cái cày, cái bừa, với một con trâu mộng, trong một thời gian ngắn đã khai hoang được mấy cánh đồng rộng lớn. Gia phả nhà ông có ghi lại chuyện này: “Ông có rất nhiều ruộng, cho nên lúc nào trong nhà cũng mướn thêm vài chục nhân công để làm. Bò lúc nào cũng dư vài chục con. Thóc trong nhà lúc nào cũng đầy cót, đầy bồ”. Sau, ông theo nhà Trịnh, phù Lê diệt Mạc. Bao nhiêu của cải của ông đều hiến tất. Đến cuối đời ông lại thành nghèo.
Qua hai đời nữa, họ Võ chẳng có gì đáng nói. Nghĩa là cũng chỉ bám đít trâu kiếm ăn lần hồi. Nghe nói thời nhà Nguyễn, chúng nó đánh thuế nặng lắm, nên nai lưng ra làm, đủ ăn là khá lắm rồi.
Bố ông cũng là người tiếp thu một gia sản nghèo nhất của họ ông từ trước để lại. Rất nhiều lần ông đã nguyền rủa cái họ nhà ông không tìm lối khác mà sống, cứ khư khư ôm mãi cái cày chìa vôi với cái đít con trâu để chịu khổ. Ông đã bỏ làng ra đi. Trước khi đi ông tập trung cày bừa, cuốc xẻng thành một đống, đái lên và ném rơm khô vào đốt. Gian nhà năm gian của ông cũng cháy vào dịp đó với gia phả sáu đời. Xóm Đại Vũ hiện vẫn còn nhắc chuyện này như một chuyện xấu đối với nghề nông. Và như vậy, họ Võ đã phạm vào điều kiêng kị của nhà nông, nên không thể làm ăn khấm khá trên lĩnh vực nông nghiệp được.
 May mà có cách mạng. Tổ đổi công, hợp tác xã, rôm chuyện quá. Mới mấy năm có phong trào mà máy cày, máy kéo đã về làng. Đèn nhà ai nhà nấy rạng: chạy đi. Bờ nhỏ, bờ to phá đi để con trâu sắt băng băng đường cày. Gì nhỉ? “Ớ con trâu sắt chị em ơi!” Vui quá! Cứ tưởng đôi mắt người mấy nghìn năm bám vào đít trâu sẽ hết. Bò nuôi chỉ cốt lấy thịt, lấy sữa, làm tái chanh. Cảnh mấy con mẹ đàn bà chuyên “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” cũng sẽ chấm dứt. Có máy cày rồi thì có máy cấy, máy gieo hạt… Nông thôn sắp thành thành thị. Nông dân tất thảy thành công nhân. Ôi chao! Nghĩ mà sướng, mà tràn trề hạnh phúc tương lai. Nhưng rồi hỏng hết cả. Máy cày to, máy cày nhỏ đều lần lượt trở thành đống sắt vụn. Mấy tay cán bộ dòng họ Chí, phần thì chia nhau, phần thì đánh chén sạch hết. Chẳng biết tại cái gì nhỉ? Tại cán bộ hay tại nhân dân? Đến hợp tác xã bây giờ cũng tan. Người ta bây giờ lại lo lại từ đầu. Cái cày, cái bừa, mảnh ruộng, con trâu chẳng khác gì trước, nó vẫn cứ là đầu cơ nghiệp. Cái cày từ tổ tiên ông cũng là cái cày ngày nay ông cày. Còn cái đít con trâu, cũng chẳng khác hơn.
Chẳng lẽ một đời ông để lại những điều vô lý đó. Ông đã ngoài bảy mươi tuổi, so với tổ tiên tuổi ông không kém. Thế mà định để lại một cái cày chìa vôi cũng không xong. Bất ngờ, ông thấy nhục với tổ tiên. Gia phả còn ghi rất rõ ràng: Chỉ có đôi tay, cái cày chìa vôi, với con trâu mộng mà cụ Võ Đức Minh đã khai hoang được mấy chục mẫu đất, thóc đầy bồ này, cót kia. Chẳng lẽ con cháu ngày nay lại thua cha ông ngày trước?
Nhưng ở cái xóm Đại Vũ này, thời mà cụ tổ nhà ông đến đây lập nghiệp, đất còn rộng mênh mông, ai có sức phát cây là có đất. Chứ nay, xin được miếng đất làm nhà cũng đã khó, còn đâu mà khai hoang.
Có thể đòi lại ruộng đất của nhà ông đã có trước đây được không? Như gia phả ghi thì đất của xóm này ngày xưa đều là đất của nhà ông cả. Đến khi vào hợp tác xã thì chẳng còn là của ai nữa. Bây giờ trên lại chia, trả lại cho mỗi nhà mấy sào. Nghe nói kiện mà lấy được đất. Giá mà lấy lại được toàn bộ đất đai đó làm vốn cho thằng cháu đích tôn, thì cơ may thóc đầy cót, đầy bồ của nhà ông mới có thể thực hiện được. Nhưng tiệt nỗi gia phả nhà ông lại cháy cách đây gần một trăm năm rồi.
Võ Đức Nội choàng dậy, khi có người vỗ vỗ vào mu bàn chân.
– Ai đấy?
– Dạ. Con đây ạ.
– Con mẹ cái Tĩn phỏng.
– Dạ con đây.
– Có chuyện gì không?
– Dạ thưa ông! Nhà con hết gạo mấy hôm nay, ông thương cho nhà con vay mấy bát gạo cứu đói.
– Hết gạo thì ăn khoai, ăn rau, ăn cháo. Nhà ông cũng đang phải ăn khoai đây.
– Con nói hết gạo là hết nhẵn mọi thứ. Ông làm phúc cho con vay mấy bát khoai cũng là phúc cho con lắm ạ.
– Nhà chị khỏe lắm cơ mà, lại là chỗ thân tình với nhà tay Chí, sao lại năm nào cũng cắp rá đi vay?
– Thì ông tính, năm nào con cũng nai lưng ra, chả biết thóc nó cứ đi đằng nào?
– Khổ – Võ Đức Nội than thầm – Nhà mình khổ. Ấy mà có đứa còn khổ hơn. Ông nói với chị hàng xóm.
– Đợi anh cháu dậy, chứ tôi đâu có quyền cho nhà chị vay.
– Ông ơi! Hôm trước con đã vay của anh cháu rồi. Cũng chả định tới, nhưng con đi khắp cả làng không vay được ai. Thấy có ông ở nhà con mới dám vào.
– Đã vay rồi hử? – Võ Đức Nội chừng như nhấn mạnh thêm – Đã vay rồi, thôi. Có đâu mà cho chị vay mãi?
– Ông thương gia đình con. Chị hàng xóm cầm cái rá dúi vào tay Võ Đức Nội. Võ Đức Nội gạt nhẹ ra mấy lần nhưng rồi phải miễn cưỡng cầm lấy. Nhìn đôi gò má đen, nhăn nheo hốc hác, lời nói cầu khẩn thống thiết như sắp chết đến nơi của chị hàng xóm, Võ Đức Nội cũng không thể ngoảnh mặt làm ngơ. Họ cũng là con em của những người đầu tiên đến lập xóm mới này. Lời thề sống chết có nhau bất ngờ sống dậy trong ông.
Bất ngờ thằng cháu trai của ông thức dậy. Chị hàng xóm giật vội cái rá, luồn qua cửa sau, chuồn mất. Thằng cháu ngay lập tức oang oang hỏi ông:
– Ông đã sửa xong cày cho cháu chưa?
Võ Đức Nội từ trong nhà nói vọng ra:
– Chưa.
– Thế là mất toi một buổi cày. Ông đã xem cẩn thận chưa?
– Đã – Ông trả lời.
– Thế ông đã xem cái diệp cày chưa?
“À, à. Có lẽ tại cái diệp cày”. Thế là ông vùng ngay dậy. Chỉ đảo mắt một cái, ông đã biết ngay tại cái diệp cày. “Nó cong quá!”. Ông lẩm bẩm:
– Chả trách, chả trách! Không ngờ, không ngờ. Đúng là cái diệp cày. Nó cong như cái bánh đa nướng thế này thì cày làm sao được. Thôi, tháo ra, đem lên hợp tác xã mua bán mà đổi. Hiện đại, có cái diệp cày cũng đếch ra sao.
Nghe thế, thằng cháu ông cáu liền:
– Đổi, đổi cái đéo gì được ông. Hợp tác xã mua bán chúng nó chuyên sống bằng cái nghề bán hàng rởm. Đời nào chúng nó cho đổi. Mất toi năm nghìn bạc. Ông đưa cái búa đây. Triều đại của cụ Chí là thế, ông còn chưa thấy sao?
Thế là nó cầm búa đập thật mạnh vào cái diệp cày còn đang nằm ở theo cày. Cái diệp cày làm bằng gang non, vỡ ra từng mảnh. Thằng cháu ông nói:
– Cần đéo gì phải có diệp cày, hả ông?
Câu nói của thằng cháu trai như đánh thức tiềm năng to lớn của nghề nông, làm ông run bắn người lên. Nó nói quá phải, cần gì cái diệp cày cong. Cách đây chín đời, cụ tổ nhà ông có biết cái diệp cày là cái gì đâu, thế mà có lúc trâu bò một đàn, thóc đầy bồ nọ, kho kia.
– Phải! Cần đếch gì cái diệp cày. Cứ thế mà cày! – Võ Đức Nội cùng khẳng định. Và như vừa giải xong một bài toán khó, ông cháu ông cùng hả hê.
Đối với Võ Đức Nội, sự kỳ lạ lại xuất hiện. Cái đồng hồ “quạ mổ” mới nằm yên một lúc, theo đúng dự đoán của ông lại bắt đầu chạy. Tiếng “tích tắc, tích tắc” vẫn đều đều như mọi khi; cái con “quạ mổ” vẫn mổ, cần mẫn, vô tư như chưa bao giờ biết mệt mỏi.
Chẳng có gì thay đổi suốt chín đời. Ngày mai, khi gà gáy giữa ban ngày, sẽ lại là mười hai giờ trưa.
Chẳng biết mẹ Âu Cơ có biết được chuyện này không?
(Hết phần V). Còn tiếp

4 Responses to Phạm Thành: Hậu Chí Phèo và Dư luận, phần V: Gia phả dòng họ làng Vũ Đại (Tiếp theo phần IV)

  1. Ôi,cái xã hội của triều đại cụ cHí thì rõ quá rồi.9 đời vẫn thế.Não lòng quá,dến đời thứ 10 sẽ khác hẳn đấy cụ Võ à.Trời nóng,cụ nhảy xuống Hồ mà tắm cho nó mát nhé!

    Trả lời

  2. Tác giả chịu khó tìm hiểu thực tế một chút. Ở cái làng Vũ Đại ấy từ thời Trần đến bây giờ chỉ có họ Trần thôi. Làm gì có họ Võ với họ Chí.

    Trả lời

  3. Hê hê @ bạn “Năc danh” chuẩn đấý. chắc bạn là người địa phương đó? hay bạn là nhà nghiên cứu sử học? nhưng mà bạn ơi,các nhà văn họ thâm thúy lắm và lách luật rất giỏi…Thời đại của “Cụ” Chí nào??? bạn có “Nóng” nhẩy xuống Hồ mà tắm nhé.

    Trả lời

  4. hê hê cái ông nội Võ Đức Minh!!!!!nghe tên cụ nội này cũng muốn nhảy xuống Hồ mà tắm quá hehehe

    Trả lời

Nhãn: ,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: