Vọng Thành Hoàng Quách Lê Thanh(Thay lời giới thiệu)

Phạm Thành

Nhà Xuất bản Thanh Hoá đang chuẩn bị in cuốn sách “Tình Rừng” của cố Tổng

Quách Lê Thanh và Phạm Thành. Ảnh tự chụp năm 1988.

Quách Lê Thanh và Phạm Thành. Ảnh tự chụp năm 1988.

Thanh tra Chính Phủ Quách Lê Thanh. Bà Đầm Xoè được huyền linh sai viết lời giới thiệu cho tập sách.

Tôi ở Phố Vọng, Hà Nội. Như một sự xếp đặt ngẫu nhiên của huyền linh, thi thoảng đôi phen tôi bái vọng. Quách Lê Thanh cũng được huyền linh sắp xếp với tôi như vậy. Vì rằng, đến tận lúc này, tôi cũng chưa về quê anh hay đến gia đình anh ở Hà Nội để thắp cho anh một nén hương. Điều đó, với tôi, có nghĩa là anh đang tồn tại ở cõi dương này. Tôi chưa chịu tiễn anh về cõi.

Tôi nghe Quách Lê Thanh hỏi: “Định giữ tao ở cõi dương này mãi, hả? Thế thì có việc cho chú đây”.

“Việc gì?”. Tôi hỏi lại. Anh sọc tay vào túi quần ka ki rồi quay đi, miệng “sít sít”.

Thế rồi, bỗng nhiên tôi nhận được điện thoại của cháu Tình, ái nữ dầu của anh, nói “nhờ chú đọc hộ tập sách của bố cháu và viết cho lời tựa quyển sách của bố cháu để xuất bản”. Choáng. Đọc để chữa lỗi chính tả thì được, nhưng viết lời tựa cho quyển sách thì tôi có phần e ngại.

Tôi bảo cháu Tình:

“Sao không nhờ những tay bút nổi danh khác viết, mà lại nhờ chú?”.

Cháu Tình ầm ừ, nói lời gì đó, mà tôi nghe thoảng trong không gian tiếng của tiên sinh họ Quách: “Chú phải mần thôi”.

Cung kính không bằng vânh lệnh, tôi đáp: “Vâng. Thì em mần”.

Bẩm anh Thanh: Quyển sách của anh, về anh khá đày đặn, được cháu Tình sắp xếp chia làm ba phần lớn: Phần I, là những bài thơ do anh sáng tác, được cháu gọi là “Miền ký ức”; Phần II, là những bài thơ viết về anh, được cháu tình gọi là “Những vần thơ chia sẻ; Phần III, là những bài báo viết về anh, được cháu Tình sưu tầm trên các báo, sau khi anh quy tiên, được cháu gọi  là “Những bài báo viết về Quách Lê Thanh”. Trong tập này, thơ anh sáng tác có 45 bài. Thơ bạn bè sẻ chia, vợ và con cháu khóc thương có 59 bài. Những bài báo viết về anh có 14 bài. Tổng cộng có 118 bài.

Như vậy là quyển sách của anh, về anh có cả Thơ, cả Văn.

Tôi kể anh nghe nhé. Về “Những vần thơ chia sẻ”, có thơ của bạn anh, thày giáo dạy anh, vợ và con cháu nhà anh, và anh ngờ được không, có thơ của những yếu nhân một thời của đất nước như thơ của nguyên: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Lê Huy Ngọ, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nhạc sĩ Vũ Mão; rồi của giáo sư Nguyễn Văn Hồng, thày giáo nhà thơ Nguyễn Lâm Cẩn, Phạm Phú Thang, Bùi Đức Trọng, Hoàng Kinh Luân, Đỗ Kim Trọng, Trương Nhói, Đinh Hữu Tấn, Bùi Chí Hằng, Nguyễn Đình Tiếu, Cao Bá Ngoan, Trương Công Thọ ; và đặc biệt có thơ của thi sĩ nổi tiếng tỉnh Thanh: Huy Trụ. Có bài anh đã nghe, khi anh còn ở dương thế; có bài, anh chỉ nghe khi anh đã về cõi phật.

Văn thì có Xuân Ba, Trần Hiệp, Trần Đình Thảo, Lâm Quang Ngọc, Đinh Ngọc Diệp. Đó là những bài viết về anh, dù khen hay chê, cháu cũng để xuất bản y trang như anh đã từng biết.

Kẻ “văn thì đặc, làm quan thì dốt” như tôi, chẳng dám lẩy đôi dòng chữ nghĩa về văn thơ của các bậc đã nổi danh, chỉ chăm chắm để tâm vào 45 bài thơ của anh. Mới hay rằng, anh đã có máu văn nghệ và làm thơ từ mấy chục năm về trước. Nhưng cái số quan trường, 11 lần lên, 2 lần xuống đã “ém nhẹm” vào đâu đó trong anh. Cái máu đó chỉ được khai trở lại khi anh phủi bụi đời, cởi áo quan trường, bỏ Hà Nội, quay về bản quán. Tiếc là thời gian còn ngắn quá!!!

Thơ của anh, là Thơ của tiếng lòng anh với thời với thế. Không hiện đại, chẳng lùng bùng chữ chát gì, nó là nhật ký của tình anh, giản dị, chân chất như bờ tre, luống mạ, hay một chồi xanh mới nảy mầm bên một cánh rừng hoang dại. Đó là thơ yêu thời trai trẻ. Đó là thơ phiền, muốn phủi bụi thời quan lộ. Đó là thơ sẻ chia với đồng bào, bà con, anh em bạn bè lối xóm. Tất cả đều da thiết, bùi ngùi, thấm nặng tình người, trong nỗi lòng đau đáu hướng thiện, hướng về bản ngã.

Anh ung dung tự tại:

 “Vui vẻ ta về nơi chốn cũ

Phủi bụi, trời trong giữa bản Mường”.

Hoặc:

  “ Qua thời có chức có quyền

Về quê vui cảnh điền viên bến bờ

Bìm leo cái dậu chơ vơ

Tưởng đâu vãn chợ, ngẩn ngơ chốn này

Bờ không đổ, cột đâu lay

Xứ Mường vẫn vững bàn tay chống chèo”.

 Anh triết lý nhân sinh:

  “Con ơi, ghi nhớ lấy câu

Giầu sang cũng chẳng bằng giầu nghĩa nhân

 Một đời quan, vạn đời dân

 Ở đâu cũng phải sống gần bà con”.

Anh nặng lòng sẻ chia:

“Ngắm quê, lòng thấy bùi ngùi

Nhớ thời còn trẻ, một thời khó khăn

 Quần áo rách, rét không chăn

Tháng ba, ngày tám chạy ăn từng ngày.

 Quê hương nặng gánh nghĩa tình

Trông người thấy gốc, bóng hình vẫn xưa

Gió đồi xanh lá trong mưa

Tay ươm hạt giống rừng vừa lên xanh”.

Anh nhắn nhủ với nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu:

“Anh ơi trong tán lá rừng

Bao nhiêu cỏ dại, mấy tầng dây leo?

Giọt sương nào cũng trong veo

Chỉ thương đất xác, đất nghèo vì mưa”.

Với số lượng thơ, văn, bài vở như trên, tôi tin là cháu Tình còn chưa sưu tầm hết. Đó là những bài thơ anh đã sáng tác, nhưng chưa kịp viết ra giấy. Đặc biệt là phần văn thơ của già làng, trưởng bản quyết định rước anh vào đình làng để thờ tự như một người có công làm rạng rỡ làng Muốt của anh.

Tôi có gọi điện cho cháu và cháu nói sẽ bổ sung. Như vậy là tập sách có thêm phần IV, mà tôi đặt tên là “Thành hoàng Quách Lê Thanh”. Phần này gồm có các bài:  Lễ rước bài vị anh lên Đình Làng Muốt; Nhân dân làng Muốt tôn vinh anh tại Lễ rước; Phát biểu của già làng tại Lễ rước, Phát biểu của đại diện học sinh tại Lễ rước; Phát biểu của con cháu anh tại Lễ rước; và cuối cùng là những câu hỏi và trả lời nêu lý do tại sao lại rước bài vị anh về đình làng để thờ.

Anh biết không, Lễ rước đã diễn ra suôn sẽ trong không khí trang nghiêm, thành kính của cả làng, từ già đến trẻ. Như vậy, anh, một người trần mắt thịt, đã hiển linh ngay sau khi tạ thế, trở thành Thành Hoàng của làng rồi.

Đây là điều mà khi sống anh chưa bao giờ nghĩ đến. Anh biết không, anh là người thứ hai, sau tiên sinh họ Phạm, người đầu tiên dựng làng này, được rước vào đình làng thờ tự như vậy. Mới hay, nhân nào quả đấy. Giả sử rằng, anh quy tiên tại Hà Nội, liệu dân làng có rước anh vào đình làng để thờ  không? Liệu khi thôi quan, anh khư khư bám lấy Hà Nội, có được dân làng rước vào đình thờ không? Và, giả sử rằng, khi anh sống anh chỉ lo cho riêng mình, tính cho riêng mình,“sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi” thì dân làng có rước anh vào đình làng để thờ không? Về quê, sống cùng bà con, mong ước chia sẻ cùng bà con những vui buồn của kiếp người, mới hay là lựa chọn đúng của anh. Cứ minh bạch, công khai, thẳng thắn mà nói thì từ Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 đến nay, Thanh Hoá ta đã có ai được rước vào đình làng thờ như anh? Và Làng Muốt của anh, mấy trăm năn nay mới thêm có một mình anh. Thế là rõ, chính cái đức của anh lúc nào cũng thương dân, tin dân, yêu dân nên anh mới được dân cho hưởng điều vinh dự này. Đó cũng là sự công minh của Đấng tạo hoá. Có lẽ vì vậy, mà thày giáo Hoàng Kim Luân mới khảng khái tặng anh câu thơ này:

  “Sống:

Làm quan ở đất Hà Thành

 Thác:

Về ở giữa đình làng vẫn qua

  Mặc cho miệng lưỡi thế gian

 Người dân đất Cẩm muôn vàn nhớ ơn”.

Thác mà vẫn tiếp tục làm quan. Có lẽ cái phận phải làm quan vẫn là số kiếp của anh.

Vì vậy, tôi mong anh, một Thành Hoàng mới, kết hợp với ông Thành Hoàng cũ là tiên sinh họ Phạm, phù hộ cho dân làng Muốt của anh được no đủ, vui tươi trong khi còn ở kiếp người. Nó cũng chính là mong ước cả đời anh, khi anh còn ở dương thế.

Bẩm anh Thanh. Tôi chỉ mần được có thế. Mong anh phù hộ cho./.

Hà Nội, một ngày Đông nắng, năm 2011.

BDX

1 nhận xét:

Chẹc chec20:02 Ngày 16 tháng 4 năm 2012

Thành hoàng Quách Lê Thanh gọi là gì nhỉ có phải là “Bao đại bại thượng đẳng thần” hay là gì cho phải ?

Trả lờiXóa

Nhãn: ,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: